Sáng kiến kinh nghiệm - Hướng dẫn học sinh lớp 12 rèn luyện kĩ năng làm bài văn nghị luận xã hội là sáng kiến kinh nghiệm lớp 12 hướng dẫn các bạn học sinh làm bài nghị luận xã hội được tốt hơn, là tài liệu tham khảo hay dành cho các học sinh và thầy cô giáo tham TCV RÈN LUYỆN KĨ NĂNG LÀM VĂN NGHỊ LUẬN. A, Mục tiêu cần đạt: giúp HS Rèn luyện cho học sinh kĩ năng viết đoạn văn và liên kết đoạn Rèn luyện kĩ năng diễn đạt ý. Vì thế, cách làm bài văn nghị luận về văn học lớp 9 phải có sự kế thừa, nâng. cao kiến thứcđã cung cấp, kĩ năng đã rèn luyện ở các lớp trước, sự kế thừa nâng cao này thể hiện rõ nhất ở việc nhấn mạnh tính tổng hợp của tri thức của kĩ năng và tăng cường - trong "rèn kỹ năng làm văn nghị luận" định nghĩa: văn nghị luận là loại văn trong đó người viết (người nói) trình bày những ý kiến của mình bằng cách dùng lý luận bao gồm cả lí lẽ và dẫn chứng để làm rõ một vấn đề thuộc chân lý nhằm làm cho người nghe (người đọc) hiểu, tin đồng tình với những ý kiến của mình và hành động theo những điều mà mình … 1. Giải vở bài tập Tiếng Việt lớp 4 trang 61, 62: Luyện từ và câu Động từ Giải vở bài tập Tiếng Việt lớp 4 trang 61, 62: Luyện từ và câu I. Nhận xét Câu 1: Đọc đoạn văn sau : Anh nhìn trăng và nghĩ tới ngày mai Dưới đây là một cách rèn luyện tư duy đối với mảng NLXH tương đối hiệu quả, các em học sinh có thể tham khảo và áp dụng: - Dành 10 - 15 phút điểm báo mỗi ngày (báo mạng hoặc báo điện tử). Khi điểm báo nên quan tâm những vấn đề "nóng", gây nhiều tranh luận, những sự kiện lớn và những trào lưu, hiện tượng của giới trẻ. KtPQxVf. Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bài giảng môn học Ngữ văn lớp 7 - Rèn kỹ năng làm văn lập luận chứng minh", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên16 / 12 / 2006 Chủ đề RÈN KỸ NĂNG LÀM VĂN LẬP LUẬN CHỨNG MINH I. MỤC TIÊU BÀI HỌC Giúp học sinh - Nắm được các kiến thức về lập luận chứng minh, đặc điểm của luận điểm và luận cứ trong văn nghị luận chứng minh. - Rèn luyện thực hành làm văn nghị luận chứng minh. - Có ý thức trong cách hành văn nghị luận chứng minh. II. TÀI LIỆU THAM KHẢO * Sách giáo khoa Ngữ văn 7, tập II Nhà xuất bản giáo dục. * Một số kiến thức, kỹ năng và bài tập nâng cao Ngữ văn 7 * Một số bài làm văn hay . TIẾN TRÌNH BÀI DẠY Tiết 1 -2 1 Ổn định tổ chức 2 Bài học * Giới thiệu bài Bài văn chứng minh có nhiệm vụ rất cơ bản là tìm những căn cứ xác thực , đã được mọi người chấp nhận bao gồm cả lí lẽ và dẫn chứng để làm sáng tỏ một ý kiến , một nhận định, một vấn đề mới mẻ nhằm thuyết phục người đọc, người nghe. * Tổ chức các hoạt động Nội dung Bài tập I. Tìm hiểu chung về lập luận, chứng minh 1 Lập luận là cách nêu luận cứ để dẫn đến luận điểm. Lập luận phải chặt chẽ, hợp lí thì bài văn mới có sức thuyết phục. 2 Luận cứ là lí lẽ, dẫn chứng đưa ra làm sở cho luận điểm. Luận cứ phải chân thật, đúng đắn, tiêu biểu thì mới khiến cho luận điểm có sức thuyết phục. 3 Luận điểm là ý kiến thể hiện tư tưởng, quan điểm của bài văn được nêu ra dưới hình thức câu khẳng định hoặc phủ định, được diễn đạt sáng tỏ, dễ hiểu, nhất quán. Luận điểm là linh hồn của bài viết, nó thống nhất các đoạn văn thành một khối . Luận điểm phải đúng đắn, chân thật, đáp ứng nhu cầu thức tế thì mới có sức thuyết phục. Trong bài có thể có luận điểm chính, luận điểm phụ 4 Trong thực tế cuộc sống có những trường hợp chúng ta cần khẳng định một sự thật nào đó , mong muốn người tham gia giao tiếp hiểu và tin mình . Để chúng tỏ đó là chân lí , người ta phải dùng những chứng cứ xác thực và đủ sức thuyết phục . Đó chính là thao tác chứng minh. Chứng minh là một phép lập luận dùng những lí lẽ, bằng chứng chân thật , đã được thừa nhận để chứng tỏ luận điểm mới cần được chứng minh là đáng tin cậy Có nghĩa là căn cứ vào cái đã biết để suy ra cái chưa biết và xác nhận cái đó có tính chân thực, nhằm thuyết phục người đọc, người nghe. II. Một số điểm cần chú ý trong văn lập luận, chứng minh - Yếu tố dẫn chứng đóng vai trò chủ yếu chính - Muốn cho văn nghị luận chứng minh có sức thuyết phục thì hệ thống dẫn chứng đưa vào phải được lựa chọn, thẩm tra , phân tích, vừa đảm bảo phong phú tiêu biểu vừa đảm bảo tính chính xác cao những số liệu, những sự việc, những câu chuyện, câu danh ngôn, tác phẩm văn học, và dẫn chứng chỉ có giá trị khi có xuất xứ rõ ràng và đã được thừa nhận. - Yêu tố lí lẽ không đóng vai trò chính trong văn chứng minh nhưng cũng khá quan trọng bởi ngoài dẫn chứng người viết phải đưa ra được những lí lẽ sắc sảo, xác đáng thường lí lẽ là những chân lí đã được mọi người thừa nhận III. Cách làm bài văn lập luận, chứng minh * Tiến hành 4 bước Tìm hiểu đề, tìm ý; lập dàn ý, viết bài, sửa bài. * Bố cục 3 phần Mở bài Nêu luận điểm cần chứng minh Thân bài Nêu lí lẽ và dẫn chứng để chứng tỏ luận điểm là đúng đắn. Kết bài Nêu ý nghĩa luận điểm đã được chứng minh. Bài 1 Tìm những lí lẽ,dẫn chứng xác thực để chứng minh luận điểm sau Rừng mang lại nhiều lợi cho con người. Bài 2 Hãy tìm luận điểm và luận cứ để chứng minh Người mẹ có vai trò hết sức quan trọng đối với cuộc đời mỗi người. Gợi ý Bài 1 - Rừng cung cấp cho ta nhiều lại gỗ để phục vụ cho đời sống hằng ngày + Gỗ tạp làm vật dụng , làm củi đốt + Gỗ quý đóng bàn, ghế, làm vật liệu xây doing - Rừng cung cấp thảo dược phục vụ cho y học dùng làm thuốc bệnh nan y - Rừng là nơi sinh sống của các loài động vật quý hiếm để cung cấp cho con người - Rừng là “Vạn Lí Trường Thành” vững chắc bảo vệ cuộc sống con ngườichống thiên tai lũ lụt - Rừng giúp cho việc điều hòa không khí trong lành - Rừng giúp ccon người đánh giặc Rừng che bộ đội , rừng vây quân thù Bài 2 1 Luận điểm Người mẹ có vai trò hết sức quan trọng trong cuộc đời mỗi người 2 Các luận cứ - Mẹ là người đã sinh ra ta - Mẹ luôn gần gũi ta, động viên khi ta nhụt chí, an ủi khi ta bất hạnh, tiếp thêm sức mạnh để ta vững bước vào đời . - Mẹ ôm ấp vỗ về , ầu ơ rut a ngủ , nuôi dưỡng thể lực ta bằng dòng sữa ngọt ngào, bồi đắp tâm hồn ta bằng tình yêu và lòng nhân ái . - Khi ta ốm mẹ thức thâu đêm , lo cho ta từng miếng ăn, giấc ngủ, lặng lẽ gait những giọt nước mắt buồn đau để cầu mong cho ta được yean lành - Mẹ theo dõi từng bước ta đi , nâng cánh ứơc mơ và sẵn sàng che chở khi ta trưỏng thành - Ngay những ngày gian khó nhất, mẹ vất vả ngựoc xuôi , làm việc không biết mệt mỏi để nuôi ta khôn lớn 3. Củng cố Thế nào là chứng minh . Vai trò của lí lẽ và dẫn chứng trong văn lập luận chứng minh. 4. Hướng dẫn về nhà - Hoàn chỉnh các bài tập. - Chứng minh câu ca dao Một cây làm chẳng nên non Ba cây chụm lại nên hòn núi cao Tiến hành làm 4 bứơc III. RÚT KINH NGHIỆM, BỔ SUNG .. Ngày soạn 14/ 01/ 2007 Chủ đề RÈN KỸ NĂNG LÀM VĂN LẬP LUẬN CHỨNG MINH I. MỤC TIÊU BÀI HỌCGiúp học sinh - Nắm được các kiến thức về văn lập luận chứng minh, đặc điểm của luận điểm, luận cứ trong văn lập luận chứng minh - Rèn luyện kỹ năng thực hành làm văn nghị luận chứng minh - Có ý thức trong cách hành văn nghị luận chứng minh. II. TÀI LIỆU THAM KHẢO * Sách giáo khoa Ngữ văn & tập II Nhà xuất bản giáo dục * Một số kiến thức kỹ năng và bài tập nâng cao Ngữ văn 7 * Một số bài văn tham khảo TIẾN TRÌNH BÀI DẠY Tiết 3-4 1 Ổn định tổ chức 2 Bài mới a Giới thiệu bài Bài văn nghị luận chứng minh có nhiệm vụ rất cơ bản đó là tìm những căn cứ xác thực đã được mọi người chấp nhận bao gồm cả lí lẽ, dẫn chứng để làm sáng tỏ một ý kiến, một nhận định, một vấn đề mới mẻ nhằm thuyết phục người đọc người nghe. Vậy làm thế nào để làm tốt một bài văn lập luận chứng minh. b Nội dung bài học * Về quy trình khi làm văn lập luận chứng minh - Tìm hiểu đề để xác định vấn đề cần chứng minh tức là luận điểm . Trên cơ sở luần điểm tổng quát để xác định các luận điểm và sắp xếp các ý thành dàn bài. - Lập dàn bài phải đầy đủ các phần mở bài, thân bài, kết bài. Trong quá trình làm dàn bài ở mỗi luận điểm phải tìm các luận cứ tương ứng với những lí lẽ và dẫn chứng tiêu biểu. - Bổ sung hoàn chỉnh bài văn - Đọc lại toàn bài và sửa các lỗi nếu có. Ví dụ Cho đề bài Nhân dân ta thường nói Có chí thì nên. Hãy chứng minh tính đúng đắn của câu tục ngữ đó. - Luận điểm Câu tục ngữ khẳng định vai trò , ý nghĩa to lớn của chí trong cuộc sống. Chí có nghĩa là hoài bão , lí tưởng tốt đẹp , ý chí nghị lực sự kiên trì . Ai có các điều kiện đó sẽ thành công trong trong sự nghiệp. - Dàn bài Mở bài Nêu vai trò quan trọng của lí tưởng, ý chí và nghị lực trong cuộc sống mà câu tục ngữ đã đúc kết. Đó là một chân lí. Thân bài + Xét về lí Chí là điều cần thiết để con người vượt qua mọi trở ngại. Không có chí thì không làm được gì. + Xét về thực tế Những người có chí đều thành công nêu dẫn chứng Chí giúp con người vượt qua những khó khăn tưởng chừng như không thể vượt qua được nêu dẫn chứng Kết bài Mọi người nên tu dưỡng ý chí bắt đầu từ những việc nhỏ, để khi ra đời làm được việc lớn. * Về cách lập luận - Hệ thống luận điểm phải được sắp xếp theo một trình tự hợp lí. Mỗi luận điểm ứng với ít nhất một đoạn văn. Luận điểm có thể nằm ngay ở câu mở đoạn học cuối đoạn. Giữa các đoạn phải liên kết chặt chẽ thể hiện qua các hình thức chuyển tiếp ý bằng từ ngữ hoặc câu văn . Chẳng hạn Chỉ quan hệ liệt kê theo trình tự thứ nhất, thứ hai,., chỉ quan hệ bổ sung trước hết, mặt khác, bên cạnh đó, ngoài ra,, chỉ quan hệ đối lập, tương phản trái lại, ngược lại, mặc dù vậy,.. - Có những cách sắp xếp luận điểm sau + Theo trình tự thời gian trước- sau, quá khứ- hiện tại, các mốc thời gian cụ thể,.. + Theo trình tự không gian miền Nam- miền Bắc, miền núi- miền xuôi, trong nước- trên thế giới + Theo trình tự đối tượng, hoàn cảnh, lĩnh vực thanh niên- phụ nữ- thiếu nhi, sản xuất- chiến đấu,.. Để bài văn thuyết minh có sức thuyết phục cần phải lựa chọn dẫn chứng thật tiêu biểu . các dẫn chứng phải được sắp xếp thật lôgíc, có xuất xứ rõ ràng. Đặc biệt kèm theo các dẫn chứng nên có lời lẽ phân tích, đánh giá nhận xét để tạo căn cứ vững chắc làm sáng tỏ vấn đề cần chứng minh. Bài tập Nhân dân ta thường nhắc nhau Một cây làm chẳng nên non Ba cây chụm lại nên hòn núi cao Em hãy lấy dẫn chứng trong lịch sử, văn học và trong đời sống để minh họa cho câu ca dao trên. 3 Củng cố, hướng dẫn về nhà - Làm hoàn chỉnh bài tập - Chuẩn bị tiết kiểm tra III. RÚT KINH NGHIỆM, BỔ SUNG Ngày soạn 10/01/2008 Ngày giảng15/01/2008 - Chủ đề RÈN KỸ NĂNG LÀM VĂN LẬP LUẬN CHỨNG MINH I. MỤC TIÊU Giúp học sinh - Nắm được các kiến thức về lập luận chứng minh, đặc điểm của luận điểm và luận cứ trong văn nghị luận chứng minh. - Rèn luyện thực hành làm văn nghị luận chứng minh. - Có ý thức trong cách hành văn nghị ... các câu hỏi sau 1 Đề bài yêu cầu giải thích vấn đề gì ? 2 Làm thế nào để tìm được ý nghĩa chính xác và đầy đủ của câu tục ngữ, nhận định ? Phương hướng giải thích _ Giải thích nghĩa đen __ Tục ngữ Giải thích nghĩa bóng Ý nghĩa sâu xa nghĩa rộng - Phạm vi cần giải thích chúng ta có thể liên hệ với các câu ca dao, tục ngữ, nhận định có cùng nội dung với vấn đề cần giải thích. 3 Em có thể kết luận gì về việc tìm hiểu đề - tìm ý cho bài văn nghị luận giải thích ? Bước 2 Lập dàn bài Hỏi Lập dàn bài có quan trọng không ? Học sinh phải rèn luyện thói quen lập dàn bài trước khi vào viết một bài văn vì có một dàn bài tốt đã là một đảm bảo khá chắc chắn cho sự thành công của bài làm. Vì thế mà Gơt hay Doxtoiepxki nhà văn Nga đã nói “Nếu tìm được một bản cố cục thỏa đáng thì công việc sẽ trôi chảy như trượt trên băng” Hỏi Vậy thế nào là lập dàn bài ? Lập dàn bài là chọn lựa, sắp xếp các ý chính, ý phụ theo một trình tự hợp lý. Dàn bài phải thể hiện được - Nội dung cơ bản của vấn đề phải giải quyết. - Trình tự lập luận chung của toàn bài văn. Hỏi Có mấy kiểu dàn bài ? Có 2 kiểu dàn bài đại cương và dàn bài chi tiết * Dàn bài đại cương thường gồm - Những ý chính - Những ý phụ * Dàn bài chi tiết thường gồm - Những ý chính - Những ý phụ - Những chi tiết của ý chính, ý phụ. Có thể diễn đạt dàn bài chi tiết bằng các câu văn hoàn chỉnh hoặc bằng những từ ngữ tóm tắt ngắn gọn. Mô hình dàn ý của kiểu bài nghị luận giải thích thường gồm 3 phần A. Mở bài thường gồm những bộ phận nhỏ như sau - Gợi mở vào đề - Giới thiệu vấn đề cần giải thích - Viết lại câu trích dẫn của đề B. Thân bài là phần trọng tâm gồm một số lập luận theo một hệ thống trình tự hợp lý mà người viết chọn. - Em hiểu vấn đề cần nghị luận ấy như thế nào ? - Vì sao em hiểu như vậy ? - Hiểu vấn đề, em sẽ hành động ra sao ? C. Kết bài - Khái quát, nêu ý nghĩa vấn đề vừa giải thích. - Liên hệ bản thân * Có hai cách mở bài - Cách 1 mở bài trực tiếp + Giới thiệu thẳng với người đọc vấn đề để trình bày + Cách mở bài này nhanh gọn, tự nhiên, giản dị, dễ tiếp nhận và thích hợp với những bài viết ngắn. + Nếu không khéo sử dụng thì sẽ dễ khô khan, ít hấp dẫn. - Cách 2 mở bài gián tiếp không đi thẳng vào vấn đề mà gợi mở vào đề bằng biện pháp so sánh, tương phản, nghi vấn, giả định bằng cách đưa ra + Một hình ảnh so sánh. + Một hình ảnh tương phản, đối lập. + Một câu danh ngôn, trích dẫn văn thơ, một câu tục ngữ. + Một câu chuyện ngắn Bước 3 Viết bài Đây là bước tạo lập văn bản hoàn chỉnh, là giai đoạn người viết - Dùng từ, đặt câu, dựng đoạn. - Vận dụng cách viết văn nghị luận. - Bám sát dàn bài để hoàn thành bài văn. GV lưu ý cho học sinh cách dùng từ, viết câu, dựng đoạn viết từ chính xác, không tùy tiện. Các câu trong đọan phải thống nhất, liên kết với nhau bằng các BPTT đã học. Mỗi đoạn văn phải được sắp xếp theo trình tự trước sau, hô ứng theo các cách lập luận diễn dịch, quy nạp, tổng - phân - hợp GV hướng dẫn lại cho HS. Bước 4 Đọc lại và sửa chữa Hỏi Vậy bước này có quan trọng không ? Có thể bỏ được không ? Đây là bước kiểm tra lại để hoàn thiện văn bản sửa lỗi chính tả, cách dùng từ, đặt câu * Lưu ý - Dung lượng phần mở bài phải cân xứng với khuôn khổ của bài viết. Nên viết ngắn gọn, khéo léo, có sức thu hút, gợi hứng thú. Tránh viết lan man, không ăn khớp với các phần sau, tránh viết bay bướm, cầu kỳ. - Phần thân bài có thể có nhiều đoạn văn liên kết với nhau. Kết hợp cả lập luận chứng minh với giải thích. Tuy nhiên, văn giải thích sử dụng lí lẽ nhiều hơn dẫn chứng. Và vẫn có thể dùng dẫn chứng để giải thích. - Phần kết bài dung lượng và độ dài của kết bài phải cân xứng với mở bài và thân bài. Nên viết gọn gàng, nhẹ nhàng, sâu sắc, gợi cảm. Tránh viết lan man, dài dòng, không ăn khớp với các phần trên. Hoạt động 3 Luyện tập GV hướng dẫn HS làm. - Goị học sinh đọc Phương pháp giải thích trong văn nghị luận Giải thích bằng nhiều cách nêu định nghĩa, kể ra các biểu hiện, so sánh, đối chiếu với các hiện tượng khác, chỉ ra các mặt lợi, hại, nguyên nhân, hậu quả, cách đề phòng hoặc noi theo, của hiện tượng hoặc vấn đề cần giải thích. II. Quy trình làm văn nghị luận giải thích Trải qua 4 bước Tìm hiểu đề - Tìm ý, Lập dàn bài, Viết bài, Đọc lại và sửa chữa. Bước 1 Tìm hiểu đề - Tìm ý 1 Đề bài yêu cầu giải thích vấn đề gì ? 2 Làm thế nào để tìm được ý nghĩa chính xác và đầy đủ của câu tục ngữ, nhận định? Phương hướng giải thích - Phạm vi cần giải thích chúng ta có thể liên hệ với các câu ca dao, tục ngữ, nhận định có cùng nội dung với vấn đề cần giải thích. Bước 2 Lập dàn bài - Lập dàn bài là chọn lựa, sắp xếp các ý chính, ý phụ theo một trình tự hợp lý. - Mô hình dàn ý của kiểu bài nghị luận giải thích gồm 3 phần A. Mở bài thường gồm những bộ phận nhỏ như sau - Gợi mở vào đề - Giới thiệu vấn đề cần giải thích. - Viết lại câu trích dẫn của đề. B. Thân bài là phần trọng tâm gồm một số lập luận theo một hệ thống trình tự hợp lý mà người viết chọn. - Em hiểu vấn đề cần nghị luận ấy như thế nào ? - Vì sao em hiểu như vậy ? - Hiểu vấn đề, em sẽ hành động ra sao? C. Kết bài - Khái quát, nêu ý nghĩa vấn đề vừa giải thích. - Liên hệ bản thân. Bước 3 Viết bài Đây là bước tạo lập văn bản hoàn chỉnh, là giai đoạn người viết - Dùng từ, đặt câu, dựng đoạn. - Vận dụng cách viết văn nghị luận. - Bám sát dàn bài để hoàn thành bài văn. Bước 4 Đọc lại và sửa chữa Đây là bước kiểm tra lại để hoàn thiện văn bản. III. Luyện tập Đề Tục ngữ có câu “Nhiễu điều phủ lấy giá gương Người trong một nước phải thương nhau cùng” Hãy tìm hiểu người xưa muốn nhắc nhủ điều gì qua câu ca dao ấy. a Lập dàn ý cho đề bài trên. b Viết phần mở bài và kết bài cho đề bài Dặn dò học sinh chuẩn bị cho tiết học tiếp theo 5’ Bài tập về nhà - Học sinh tập viết đoạn văn cho các đề bài khác tự chọn Nắm vững qui trình làm bài văn nghị luận giải thích. Ôn tập kiến thức về văn nghị luận giải thích. Chuẩn bị bài mới Soạn bài “ Rèn kĩ năng làm văn nghị luận giải thích” tiết 5-6 - Tập viết đoạn văn giải thích. Ôn tập chuẩn bị kiểm tra. IV. RÚT KINH NGHIỆM Ngày soạn 10/03/2008 Ngày giảng/0../2008 TỰ CHỌN 7 - CHỦ ĐỀ 3 RÈN KĨ NĂNG LÀM VĂN NGHỊ LUẬN GIẢI THÍCH Tiết 5- 6 I. MỤC TIÊU BÀI HỌC Giúp học sinh - Củng cố lại những kiến thức về văn lập luận giải thích Tìm hiểu đề, tìm ý; lập dàn ý, viết bài và sửa bài. - Viết được bài văn lập luận giải thích đã học trong chương trình. - Có lòng yêu thích văn lập luận giải thích. II. CHUẨN BỊ * Sách giáo khoa Ngữ văn 7 tập II. Nhà xuất bản giáo dục. * Một số kiến thức kĩ năng và bài tập nâng cao Ngữ văn 7. * Một số đoạn văn tham khảo TIẾN TRÌNH BÀI DẠY Tiết 5 - 6 1 Ổn định tổ chức 1’ 2 Bài học * Giới thiệu bài 1’ Các tiết trước chúng ta đã tìm hiểu các bước làm bài văn lập luận giải thích. Tiết học này chúng ta cùng nhau củng cố lại các bước làm bài qua một đề bài cụ thể. * Tiến trình tiết dạy TG_HOẠT ĐỘNG CỦA GV- HỌC SINH_NỘI DUNG__50 35_* Hoạt động 1 Ôn tập – Luyện tập Cho đề bài Nhân dân ta có câu tục ngữ “Thương người như thể thương thân” Hãy giải thích nội dung câu tục ngữ đó 1 Tìm hiểu đề, tìm ý - Thể loại lập luận giải thích. - Nội dung câu tục ngữ “Thương người như thể thương thân” Tìm ý - Như thế nào là thương người như thể thương thân ? - Tại sao nói “Thương người như thể thương thân” ? - Làm thế nào để sống theo truyền thống đạo lý tốt đẹp đó ? 2 Lập dàn ý Mở bài Giới thiệu ý nghĩa câu tục ngữ và trích dẫn câu tục ngữ. Thân bài Giải thích nội dung câu tuc ngu - Giải thích nghĩa đen, nghĩa bóng của câu tục ngữ. - Tại sao lại nói “Thương người như thể thương thân” ? - Làm thế nào để sống theo truyền thống đạo lý tốt đẹp đó ? Liên hệ một số câu ca dao, tục ngữ có nghĩa tương tự. Kết bài Khẳng định lại ý nghĩa của câu tục ngữ. 3 Viết đoạn văn Viết đoạn mở bài và kết bài. Giáo viên cho học sinh viết sau đó trình bày trước lớp. 4 Sửa bài Giáo viên uốn nắn những sai sót của HS và yêu cầu các em tự sửa lại. * Hoạt động 2 Kiểm tra Đáp án và biểu điểm Học sinh viết được phần thân bài triển khai nội dung Trong cuộc sống cần có sự yêu thương, san sẻ tình cảm giữa con người với con người. Biết cách lập luận chặt chẽ vấn đề đặt ra. Thang điểm Nội dung 8 điểm - Giải thích được ý nghĩa câu tục ngữ 2 điểm - Giải thích được cơ sở của câu tục ngữ 4 điểm - Hành động của bàn thân và liên hệ một số câu tương tự 2 điểm Hình thức 2 điểm - Lập luận chặt chẽ 1 điểm - Ít sai lỗi chính tả, chữ viết sạch đẹp, rõ ràng 1 điểm _I. Ôn tập II. Kiểm tra Đề Nhân dân ta có câu tục ngữ ?Thương người như thể thương thân? Hãy viết phần thân bài giải thích nội dung câu tục ngữ trên. __ 3 Hướng dẫn về nhà 3? - Xem lại bài viết, còn thiếu sót, tự bổ sung thêm. - Nắm vững các bước làm bài văn lập luận giải thích. 4 Kết quả kiểm tra Ngày đăng 15/10/2017, 0740 MỤC LỤC I MỞ ĐẦU Lí chọn đề tài Mục đích nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu II NỘI DUNG sở lí luận trạng nghiên cứu giải pháp thực Tổ chức thực kết III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ luận nghị Tài liệu tham khảo Trang 01 01 01 01 02 02 02 02 03-18 19 19 19 20 I MỞ ĐẦU LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI Với vị trí quan trọng mạnh riêng nhà trường phổ thông, môn Văn trước hết giúp người học tiếp xúc với vẻ đẹp kỳ diệu phong phú tiếng mẹ đẻ, tiếp xúc với vốn văn hoá dân tộc văn hoá nhân loại kết tinh tác phẩm Văn học hình thành cho HS khả tạo lập văn từ bồi dưỡng tâm hồn, góp phần hình thành phát triển nhân cách toàn diên cho học sinh Bộ môn Ngữ văn nhà trường phổ thông bao gồm ba phân môn chính Tiếng Việt - Đọc Văn – Làm văn Trong đó, phân môn Tiếng Việt cung cấp kiến thức ngôn ngữ kỹ sử dụng Tiếng Việt giao tiếp, đọc văn Hay gọi Đọc – Hiểu tác phẩm Văn học giúp em có khả cảm thụ hay đẹp mà tác phẩm văn học mang lại Cùng với việc rèn kĩ đọc hiểu, kĩ sử dụng tiếng Việt, phần Làm văn trọng phần thể rõ kĩ thực hành, sáng tạo học sinh Làm văn gồm hai dạng nghị luận văn học nghị luận xã hội Trong chương trình giảng dạy mới, nghị luận xã hội chiếm tỉ lệ cao nhiều so với trước đây, nhằm mục đích tăng cường gắn bó học sinh với đời sống xã hội, tạo cho học sinh lực chủ động đề xuất, phát biểu suy nghĩ trước nhiều vấn đề sống Trong trình giảng dạy rút kinh nghiệm hướng dẫn học sinh làm văn NLXH Bài viết không nêu lý thuyết chung về kỹ làm văn nghị luận xã hội mà nêu lên vài phương pháp việc rèn luyện kỹ làm văn nghị luận xã hội để em có hứng thú làm MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU Qua đề tài muốn đạt mục đích bản - Giúp em nắm phương pháp kỹ để HS làm tốt làm văn nghị luận xã hội - Thông qua việc rèn luyện kỹ làm văn NLXH giúp HS nâng cao khả trình bày quan điểm trước vấn đề đặt XH ngày nay, có cách nhìn nhận, đánh giá tư tưởng đạo lí, tượng đời sống diễn hàng ngày vấn đề xã hội đặt tác phẩm văn học Đặc biệt qua đề tài giúp em có hứng thú với văn nghị luận XH làm tốt hơn, đạt kết cao kỳ thi THPT Quốc gia tới - Đề tài dùng làm tài liệu tham khảo cho GV tổ chuyên môn tham khảo dạy NLXH ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU - Một số biện pháp rèn luyện kỹ làm văn nghị luận xã hội cho học sinh THPT - Các viết thực hành NLXH có chương trình THPT lớp 10,11 - Cấu trúc dạng đề NLXH Tư tưởng đạo lí, tượng đời sống, vấn đề XH đặt tác phẩm văn học PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Nghiên cứu đề tài vận dụng phương pháp như Khảo sát, phân tích, tổng hợp, đánh giá, đối chứng với thực tế giảng dạy II NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM CƠ SỞ LÍ LUÂN Làm văn phân môn môn ngữ văn nhà trương THPT Khi học phân môn HS thường gặp khó khăn kỹ làm văn NLXH HS không nắm vững quy trình làm từ khâu tìm hiểu đề, nhận dạng đề, đến khâu lập dàn ý Đặc biệt vấn đề xác định luận điểm, luận viết Bởi vấn đề đặt văn NLXH thường rộng lớn bao gồm vấn đề tư tưởng đạo lý, tượng tốt, xấu đời sống XH nay, hiểu biết kiến thức XH HS yếu Vì nhiều HS cảm thấy ngại ngần làm văn NLXH Hứng thú với dạng đề NLXH HS vấn đề mà GV cần phải quan tâm Bởi NLXH gắn với vấn đề XH như tư tưởng đạo lý, tượng đời sống nhằm giúp cho HS có nhận thức hành động đắn sống Đặc biệt thông qua viêc làm văn nghị luận XH học sinh bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất trị kỹ sống ngày hoàn thiện THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Về phía học sinh Nghị luận xã hội học cấp trung học sở, phải trình bày suy nghĩ, ý kiến cá nhân vấn đề tư tưởng đạo lý, tượng xã hội…thì đa số học sinh lúng túng “sợ” kiểu Bởi Khác với nghị luận văn học, nội dung kiến thức học trước thiên cảm xúc, nghị luận xã hội yêu cầu kiến thức rộng thuyết phục người đọc chủ yếu lập luận lý lẽ, hiểu biết em kiến thức xã hội hạn chế, kỹ làm yếu Chính mà kiểu gợi hứng thú học sinh Thật sách giáo khoa sách giáo viên có phần hướng dẫn phương pháp làm cụ thể Nhưng dù có áp dụng theo cách hướng dẫn làm ấy, nhiều học sinh thấy khó khăn viết - viết mươi dòng hết ý! Đó em thiếu phần vô quan trọng kiến thức văn hóa vốn sống Vậy kiến thức lấy đâu? Điều phụ thuộc hoàn toàn vào khả tự học, tự đọc, tự thu thập kiến thức học sinh Ngày nay, với phương tiện đại việc truy cập thông tin điều đơn giản, thực tế hoàn toàn ngược lại học sinh nghèo vốn kiến thức xã hội, văn hóa Vì vậy, học sinh cần phải giáo viên định hướng, nắm bắt kiến thức kỹ cần thiết để làm tốt văn nghị luận xã hội Về phía giáo viên Việc cung cấp kiến thức rèn luyện kỹ làm văn NLXH cho học sinh điều khó số tiết quy định chương trình có giới hạn Tư liệu nghị luận xã hội không phong phú nghị luận văn học nên thuận lợi việc soạn giảng Từ thực tế trên, xin đưa số kinh nghiệm cá nhân dạy nghị luận xã hội để đồng nghiệp tham khảo 3 NHỮNG GIẢI PHÁP THỰC HIỆN MỘT SỐ KỸ NĂNG CƠ BẢN ĐỂ LÀM TỐT BÀI VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI Cách xác định luận điểm viết văn nghị luận xã hội Luận điểm coi linh hồn văn Vì vậy, làm văn nghị luận xã hội cần phải dựa vào yêu cầu định đề tài liệu để phân tích suy ngẫm toàn diện, đưa chủ trương kiến giải rõ ràng chuẩn xác cho thân tất vấn đề cần bàn bạc, nghị luận Một luận điểm hay nên có đặc điểm sau 1 Chính xác Không trái với thực khách quan lí luận khoa học 2 Rõ ràng Khẳng định gì, phủ định gì, lập trường rõ ràng, không lập lờ 3 Sâu sắc Cần phải sâu vào vật tượng để làm lộ chất vật tìm thứ có quy luật 4 Độc đáo Có kiến giải độc đáo mẻ việc loại vấn đề khác sống Làm để đưa luận điểm hay ? Có thể tham khảo phương diện - Đọc kĩ đề tài liệu , xác định rõ nội dung yêu cầu Chỉ có dựa lí giải đầy đủ đề tài liệu tìm góc độ làm văn hợp lí đưa luận điểm cách thuận lợi - Đi sâu suy ngẫm, nắm vững trọng tâm đề tài liệu Suy ngẫm vấn đề từ nhiều góc độ nhiều phương diện khác nhau, phân tích tài liệu từ vấn đề liên hệ sang vấn đề khác, phân tích kĩ lưỡng từ vào để nắm vững gốc, đồng thời nhìn thấu bề vấn đề, từ mà nắm rõ chất Ví dụ Một người tài xế lái xe đường bệnh tim tái phát Trong giây phút cuối đời mình, ông làm ba việc sau Từ từ dừng xe bên vệ đường, đồng thời dùng chút sức lực cuối kéo cần phanh tay; mở cửa xe để hành khách xuống xe an toàn; tắt lửa mô tơ xe để đảm bảo an toàn hành khách, người đường xe Sau ông làm xong ba công việc nhẹ nhàng chút thở cuối bô lăng Vị tài xế tên Hoàng Chí Toàn, tất người tỉnh A, ghi nhớ tên vị tài xế Câu nói cuối phần tài liệu “ Tất người tỉnh A, ghi nhớ tên vị tài xế ”, câu nói ý nghĩa đoạn văn là Vị tài xế giây phút cuối đời kiên trì hoàn thành tốt công việc Chúng ta hiểu lòng yêu nghề, kính nghề hiểu tình yêu, tinh thần trách nhiệm người - Cần phải chọn góc độ lập luận Những thứ mà tranh hay đoạn văn đem lại từ nhiều phương diện nhiều góc độ Chúng ta nhìn cách tổng thể nhìn góc độ Nhưng tóm lại có chọn góc độ mà thân cảm nhận thấy sâu sắc để tóm tắt đưa quan điểm xác Ví dụ Có đoạn tài liệu sau Nguyễn Văn A, có biệt danh “ siêu nhân ”, người giàu tỉnh B Ông trước vốn người học nghề tiệm cầm đồ, sau có đảm nhiệm chức vụ nhân viên nghiệp vụ Khi ông 20 tuổi thăng chức lên giám đốc nghiệp vụ Trong thời gian đó, ông khắp nơi không ngừng tham khảo, tìm tòi, học hỏi Về lĩnh vực thị trường nói ông am hiểu sâu sắc, khách hàng cần gì, sản phẩm bán chạy, bối cảnh thị trường tương lai nào, ông có tính toán rõ ràng + Nguyễn Văn A từ nhỏ yêu thích đọc sách, ông đọc sách nhu cầu thiết cần phải đáp ứng ngày nên đọc không Ông cảm thấy vô nuối tiếc thân học vấn không đủ nên để theo kịp với thời cuộc, ông ngày thức dậy vào 4, sáng để đọc sách + Nguyễn Văn Y Đất nước giai đoạn chuyển bắt đầu thời đại với kinh tế phồn vinh xưa chưa có Thế cuối năm 90, ông bước bước vào nghề kinh doanh Mọi việc ông có kế hoạch kĩ lựa chọn mua nhà, mua đất với giá rẻ đồng thời thành lập công ti trách nhiệm hữu hạn Trường Giang Năm 2000 Công ti Trường Giang thức tham gia vào thị trường ông trở thành Vua nhà đất Trong đoạn tài liệu nhìn thấy thành công nghiệp mà Nguyễn Văn A đạt Chỉ cần xuất phát từ điểm ban đầu nguyên nhân mà ông thành công nghiệp viết văn nghị luận từ nhiều góc độ khác tinh thần phấn đấu, kiên trì có kế hoạch - Khái quát luận điểm ngôn từ sắc bén Trong đoạn mở kết văn nghị luận thường có câu thể thái độ người viết vấn đề mà họ nghị luận Câu văn luận điểm văn Luận điểm nên ngắn gọn xúc tích, lời lẽ sắc bén, quan điểm phải rõ ràng có logic chặt chẽ Ví dụ Cuốn “ Năm đồng tiền vàng ” có thuật lại câu chuyện sau Abage nhỏ bố lên thảo nguyên chơi không may hai bố bị lạc đường Abage vừa mệt vừa sợ Cho đến lúc không bố Abage rút túi năm đồng tiền vàng, sau chôn đồng tiền vàng vào bụi cỏ bốn đồng tiền vàng dư đặt vào tay Abage nói “ Đời người có đồng tiền vàng, đồng dành cho thời kì trẻ thơ, thiếu niên, niên, trung niên tuổi già Bây dùng đồng đồng tiền chôn bụi cỏ mà phải từ từ dùng chúng Mỗi lần dùng đồng khác nhau, không uống phí đời người Hôm bố định phải thoát khỏi vùng thảo nguyên Trong tương lai định phải khỏi thảo nguyên Thế giới rộng lớn, người tồn nên phải nhiều nơi thử quan sát nhiều chút đừng để tiền vàng tác dụng mà ném ” Nhờ động viên bố mà Abage ngày hôm thoát khỏi thảo nguyên Sau lớn lên, Abage rời quê hương trờ thành truyền trưởng giỏi Đọc tài liệu cách tỉ mỉ giúp ta rút luận điểm “ trân trọng tính mệnh thoát khỏi trắc trở gập ghềnh đời ” Cách chọn luận cho văn nghị luận xã hội Luận tài liệu để nắm luận điểm, lí do, để người viết dùng chứng minh luận điểm Cùng với việc thể thái độ quan điểm thân người viết, đồng thời cần phải đưa có sức thuyết phục tán thành gì, tán thành, nhận định tượng không tốt, Như thuyết phục người khác Luận văn nghị luận có hai loại hình thức Luận thực tế luận đạo lí Luận thức tế bao gồm thực lịch sử, loạt truyện điển hình hay số thống kê Luận đạo lí bao gồm chân lí qua kiểm nghiệm thức tế, luận điểm thuật lại danh nhân, trình bày phân tích, cách ngôn, với nguyên lí, khái niệm, định luật công thức tự nhiên khoa học xã hội Dưới giới thiệu số phương pháp lựa chọn luận - Chọn luận từ sống Cuộc sống kho tài nguyên phong phú vô tận Mỗi người phải sống sống thực với chuyện hết đỗi bình thường tự nhiên có lúc chuyện vô lạ lùng, khó tin có lúc giao tiếp làm quen với người khác để từ với việc khác phát sinh loại mối quan hệ khác Đồng thời có tâm lí thử sức với địa vị, danh vọng, lí tưởng, nguyện vọng Tất thứ trở thành tư liệu luận để chứng minh cho quan điểm Ví dụ có đoạn văn nói tầm quan trọng giáo dục phát biểu báo Để luận chứng cho quan điểm “ Giáo dục đồng hành phát triển kinh tế ” người viết liệt kê loạt số liệu xác thực nghiệp phát triển giáo dục Nhật Bản sau chiến tranh để chứng thực tính xác quan điểm - Chọn luận từ việc đọc sách Nếu nói đến sách giáo khoa đọc hiểu có nhiều kiện lịch sử hoành tráng, có câu chuyện cảm động lòng người danh nhân, có văn hóa kì lạ đặc biệt nhiều nơi có phát minh khoa học vô thú vị Nếu nói rộng đọc báo, nghe đài hay lên mạng gặp thể loại tin tức đặc sắc Ví dụ câu chuyện “ Hãy cho trẻ đôi cánh tự lập ” kể “ Phú ông dầu mỏ nước Mĩ dạy ” Chuyện kể cách thể tình yêu thương đặc biệt Rockefeller “ dạy cho cách tự lập ”, cách dạy thực có sức thuyết phục - Khi chọn tài liệu làm luận nên tuân thủ theo nguyên tắc + Xoay quanh luận điểm Đây yêu cầu Tất luận chọn cần phải chứng minh cho nội dung mà luận điểm bao hàm văn nghị luận, ví dụ khác mà không liên quan đến nội dung không nên đưa vào tránh làm giảm sức thuyết phục luận + Có tính đặc trưng Khi chọn luận cần phải tuân thủ theo nguyên tắc mang tính điển hình, cố gắng chọn luận có sức thuyết phục, lại luận bình thường cố gắng dùng + Luận phong phú Các loại luận giới tự nhiên, xã hội loài người, thời cổ đại, đại; nước, nước, luận thực tế, luận đạo lí mà kết hợp cách khoa học với nâng cao sức thuyết phục văn + Luận có ý nghĩa đời đại Có thể chọn số luận mẻ, mang tính thời đại hay xảy gần không làm cho người đọc tin phục, văn thêm sức thuyết phục mà làm cho văn mang màu sắc tươi mang sức sáng tạo + Luận đầy đủ Luận văn nghị luận tối thiểu phải dùng đến ba bốn luận tiêu biểu đồng thời phải kết hợp với luận điểm để phân tích nghị luận cách có hiệu luận + Kết cấu chặt chẽ Việc xếp luận phải trọng đến phương pháp logic định Sự chồng chất tài liệu làm cho độ tin cậy sức thuyết phục luận bị giảm bớt làm cho kết cấu văn không chặt chẽ Phân tích đề lập ý Phân tích đề lập ý tiền đề sở làm văn nghị luận Bố cục đoạn, ngôn ngữ biểu đạt, nội dung tình cảm, tất điều dựa vào Có thể nói, tham khảo đề tốt, lập ý tốt, văn coi thành công nửa Phân tích đề lập ý tốt làm thông qua bước - Phân tích đề bài, tìm trọng tâm đề Đối với đề văn mà nói phải ý phân tích kết cấu ngữ pháp đề mục, phán đoán trọng điểm, tìm chuẩn trọng tâm Lấy đề “ Phải học cách quan tâm người khác ” làm ví dụ, trọng điểm nên viết “ quan tâm người khác” góc độ “ phải học ” mà viết Còn chủ đề “ trước tiên phải lo cho lo thiên hạ, sau thiên hạ vui mà vui ” lại phải xác định rõ ràng “ lo lắng ” “ vui vẻ ” trọng không thiên lệch bên - Xác định rõ mối quan hệ làm bật trọng điểm Đối với loại văn mà có hai khái niệm hai khái niệm trở lên cấu thành khái niệm tồn mối quan hệ khác điều kiện, nhân quả, mục đích, song song, chuyển ngoặt Nhất định phải phân tích tỉ mỉ, xác định rõ ràng trọng điểm Quan hệ điều kiện đề “ có mạch nguồn khiến có dòng suối xanh ” Quan hệ nhân đề “ gần gũi hay xa cách tình cảm nhận thức vật ”, nhận thức vật chịu ảnh hưởng gần gũi hay xa cách tình cảm Vì thân mà yêu mà bảo vệ, xa cách mà hoài nghi mà oán hận Quan hệ mục đích đề “ hồi tưởng suy ngẫm đời sống học sunh cấp ba ”, hồi tưởng để gợi lên suy ngẫm, suy ngẫm có trọng điểm Quan hệ song song để “ tin vào thân lắng nghe ý kiến người khác ”, hai vế song song, mang tầm quan trọng Quan hệ chuyển ngoặt trọng điểm đề “ vượt dự tính hợp tình hợp lí ” Một số phương pháp mở thường gặp văn nghị luận xã hội Một văn nghị luận có phần mở ấn tượng nhanh lấy cảm tình người đọc Dưới số cách mở thường gặp - Mở đầu danh ngôn Mở văn trực tiếp dùng câu nói người tiếng coi luận điểm toàn Ví dụ Đề bài “ Ai biết ích lợi việc đọc sách, nhiên biết cách chọn sách để đọc, để “ mở sách có ích ” Anh/chị viết văn ngắn trình bày quan điểm vấn đề Học sinh mở sau Nhà văn tiếng Nga Gorki nói “ Sách thang để tiến xã hội ” Sách thiên đường trí thức, thức ăn tinh thần nhân loại, kim nam người “ Trong sách có giấu vàng ” Tri thức sách vô vô tận, đọc sách để tiếp thu tinh hoa tri thức nhân loại, mở rộng tầm nhìn, giúp có kĩ sáng tạo, thực mục tiêu đời Điều quan trọng việc đọc sách nhiều hay mà chất lượng điều quan trọng Một sách hay giúp người đọc gợi mở tư nhạy bén, kiến giải tinh thần, rèn luyện tư tưởng đạo đức cao thượng hình thành nhân cách người Còn loại sách có nội dung xấu không nên đọc Về mặt Ph Awnghen gương sáng cho noi theo Vì vậy, năm mười chín tuổi ông tinh thông mười hai thứ tiếng Sau làm việc xã hội ông trì thói quen đọc sách để tiếp thu tri thức Cuối ông trở thành người có tri thức uyên thâm, sau trở thành nhà khoa học nghiên cứu đưa vận động chủ nghĩa cộng sản quốc tế, đóng góp lớn lao vào việc xây dựng hoàn thiện lí luận chủ nghĩa cộng sản … - Mở đầu cách thẳng vào vấn đề Ở phần mở văn bày mà dẫn luận điểm Ví dụ văn “ nói khí phách ” trực tiếp đưa luận điểm “ Người Việt Nam có khí phách ” Như vậy, luận điểm vừa đúc kết rõ ràng lại làm bật trọng tâm Cách mở vừa đưa vấn đề lại vừa thể luận điểm vô trực tiếp Ví dụ Đề bài Nói chờ đợi, Đức Gieessu có câu “ Hãy thắt lưng cho gọn thắp đèn cho sẵn Hãy làm người đợi chủ ăn cưới về, để chủ vừa tới gõ cửa, mở ” Anh/chị viết văn ngắn chủ đề “ giá trị chờ đợi ” Học sinh mở sau - Sự chờ đợi đắng cay thực không đắng … - Học mà cốt để làm quan, tư tưởng Nho gia Từ Cổ Chí Kim, có vị quan có tài thực tình nguyện mai danh ẩn tích, quy ẩn điền viên ? Không có! Lí Bạch - người tiếng hào phóng khái - có câu thơ “ Ngẩng mặt nhìn trời cười lớn cửa/ Lẽ người lều cỏ” … Đây lời cảm thán mà ông lên bị triệu vào phủ Quan Phong Có thể thấy, ông hi vọng làm quan, thấy ông chờ đợi lâu Văn nhân lịch sư Trung Quốc, có người quy ẩn ? Nhân cách tín điều họ khiến họ cách lòng với tục Thời kì đầu xã hội đại, bình minh mà đợi chờ gian khổ đến ? Bỏ hai mươi năm, cuối có kết Điều mà nhìn thấy, hình bóng có vội vàng, mông lung, đương nhiên có anh dũng tiến lên Cái khác chưa bàn đến, mà nói đến cấp Một năm cấp giống phấn đấu người để có kết làm thân mãn nguyện … - Mở cách dẫn nội dung câu chuyện Có nghĩa mở đầu văn kể câu chuyện nhỏ trước, sau từ câu chuyện dẫn điều cần nghị luận đồng thời lấy câu chuyện mà kể phần mở đầu làm cho toàn văn nghị luận Điểm hay phương pháp làm cho văn có lí có tình, nghị luận có gốc Như làm cho văn lấy việc mà nói lí, tính mục tiêu lớn làm tăng sức thuyết phục văn Xem ví dụ đây Ví dụ Đề bài Điều then chốt thành công chỗ có mục tiêu, tất khác thứ yếu Trong sống, việc đặt mục tiêu rõ ràng cho thân giúp ích cho thành công Nắm bắt rõ ràng mục tiêu phương hướng thân mở đầu tất thành tựu vĩ đại Nếu tâm hồn mục tiêu rõ ràng, sức lực tinh thần hao tổn vô ích, 10 giống người có cưa điện với tính tốt nhất, phải làm rừng sâu Anh/chị viết đoạn văn ngắn chủ đề “ xác định mục tiêu kiên trì đến ” Học sinh mở sau Tôi nghe cô giáo chủ nhiệm lớp bình luận câu chuyện, ghi chép lại Con báo vùng thảo nguyên bao la thuộc châu Phi chạy với tốc độ nhanh, lúc đuổi theo thỏ rừng, mà cách mục tiêu 100m, không hứng thú mà tha cho thỏ Nhưng thay vào hươu, tâm theo đuổi mục tiêu đến cùng, đến tận đuổi kịp hươu, giả sử bên cạnh lúc có thêm hươu khác gần với nữa, cần với tay nắm tới được, không bắt đứng bên cạnh đó, mà đuổi theo hươu chạy nhanh Tại lại ? Nguyên nhân quan trọng phải chạy thêm 100m tóm thỏ hoang, lượng mà thu không làm thỏa mãn nó, thật khập khiễng kho so sánh lượng thỏ với lượng báo, bắt hươu, ăn vài ngày nên tâm theo đuổi mục tiêu Nó không quan tâm đến hươu bên cạnh chưa bắt đầu chạy, chưa tiêu hao lượng, giả sử đuổi theo hươu bên không tóm được, đến đối tượng hươu phía trước không theo kịp Nhưng tiếp tục theo đuổi mục tiêu ban đầu, tình trạng tiêu hao lượng chắn bắt hươu Từ câu chuyện hiểu rõ làm việc cần phải suy tính trước sau, thực việc học tập giống vậy, cần tìm cách thức tư toàn diện tất học nhiều kiến thức Biết kiến thức hữu dụng chung cho người thành kiến thức riêng kiên trì thực hiện, đồng nghĩa với việc ta thu nhiều điều mẻ cảm thấy điều đáng để học hỏi Ngược lại thứ mà ta tốn nhiều thời gian mà chẳng thu kết tốt nên vứt bỏ, tiết kiệm dành thời gian học thứ có ích, nên việc học tất có ích Tôi tin người làm điều ! - Mở phương pháp so sánh Có nghĩa mở đầu văn thông qua so sánh để đưa lí lẽ làm rõ việc 11 Ví dụ “ Trung Quốc Thiếu niên thuyết ” làm rõ luận điểm sau “ Người Nhật Bản nói đất nước Trung Quốc nước đế quốc cổ xưa rộng lớn, hai đất nước đế quốc rộng lớn Lời nói cách dịch theo lời nói người Tây Âu Than ôi! Đất nước Trung Quốc phải đất nước rộng lớn ? Lương Khải Siêu nói Lời nói có ý nghĩa ! Quả thực lòng ta cháy bỏng trái tim niên Trung Quốc ”… Mở đầu đoạn văn sử dụng cách so sánh cách khéo léo, không làm rõ khuynh hướng tình cảm tác giả, đưa trọng tâm văn cách tự nhiên, thông qua so sánh tường minh làm bật trọng tâm Như làm cho người đọc có cảm giác mẻ, thú vị Ví dụ Đề bài “ Vũ trụ có nhiều kì quan, kì quan tuyệt phẩm trái tim người mẹ ” Bernard Shaw Anh/chị viết văn ngắn chủ đề “ tình mẹ” Học sinh mở sau Tôi viết tình cảm thiêng liêng nhỏ bé vô Tôi viết lên câu thơ hình ảnh vầng trăng khuyết, vầng trăng khuyết dáng nằm nghiêng, giữ khuyết cho để ôm vòng lấy yêu thương, vầng trăng khuyết tôi, vầng trăng đẹp nhất, sáng nhất, ánh sáng nhẹ nhàng, hiền dịu tình mẫu tử mãi soi sáng cho suốt đời Với tôi, điều thuộc tình mẫu tử, bình thường thiêng liêng Tình mẫu tử tình thương yêu, hi sinh, chở che bao dung người mẹ Với tôi, không thật hiểu sâu sắc tình mẫu tử, cảm nhận tình cảm thiêng liêng sâu sắc Nếu bạn hỏi tình mẫu tử có lẽ trả lời bạn được, dùng đời để nói cho bạn biết thiêng liêng tình mẫu tử, kể câu chuyện câu chuyện người khác, biểu đạt cho bạn biết tình cảm tình cảm người khác … Đối với tôi, tình mẫu tử thiêng liêng cả! … Những yêu cầu ngôn ngữ văn nghị luận xã hội Một văn nghị luận xuất sắc không cần làm cho luận điểm mẻ, rõ ràng, luận thực tế, xác thực, luận chứng hợp lí mà phải có ngôn ngữ chọn lọc chuẩn xác, hình tượng, mang khí có logic chặt chẽ - Lời văn phải chọn lọc chuẩn xác Ví dụ “ Bàn cô đơn ” tác giả viết sau Có người cảm thấy cô đơn đường phố đông người, nỗi cô đơn thực sự, đau khổ diễn tả lời Ngược lại có người ồn 12 huyên náo cô đơn, diễn tả cô đơn cao nhất, triệt để Cô đơn trạng thái tự do, giới hạn tối cao trí tuệ, đất nước niết bàn, thoát tục Ý nghĩa thực cô đơn thể nội hàm văn hóa lớn, suy nghĩ tầng sâu tư tưởng, theo đuổi tìm cầu, trí tuệ, thoáng đạt Khi nỗi cô đơn đạt đến đỉnh cao lời nói nữa, không đợi phải than “ cô đơn quá! ”, cách không bệnh mà rên hòa vào hành động chủ thể mà gửi gắm - Ngôn ngữ phải giàu hình tượng Ví dụ văn viết “ thiên phú cần cù ” “ Thiên phú quà lúc thượng đế vui ban thưởng cho, đồng tiền vàng mà Gieessu bất cẩn đánh rơi, hấp dẫn mê làm cho người ta phải ngưỡng mộ, làm cho thân họ thu lợi Anh ta tốn chút công sức đạt được, người thực cầu thị phát huy nó, người hời hợt thưởng thức nó, kẻ hư vinh lợi dụng nó, người lười biếng muốn chiếm hữu Khi đến đến có muốn tránh không được, vô duyên với cầu dụng ” … Ở người ta ví “ thiên phú ” “ quà mà thượng đế lúc vui vẻ ban thưởng cho ”, “ đồng tiền vàng mà Gieessu bất cẩn đánh rơi ”, tức nói rõ thiên phú “ gặp mà cầu ”, lẽ phải nghiêng cần cù Lấy việc bình thường sống ngày để hình tượng hóa đạo lí thâm sâu, làm cho người đọc dễ chấp nhận mà làm cho văn thêm sinh động, hoạt bát hài hước - Ngôn ngữ phải có khí Ví dụ văn “ nên làm chim ưng hay làm ốc ” có viết rằng “Từ nghìn xưa xác bậc anh tài chăm ”, cần cù đá, nhóm lửa tự tin; cần cù lửa, đốt đèn lí tưởng; cần cù đèn, soi sáng đường đời; cần cù đường, cho ta hướng ngày mai thành công !” Vận dụng phương pháp liệt kê để chứng minh khí văn chương, tỏ rõ đầy đủ tầm quan trọng đức tính cần cù - Ngôn ngữ mang tính logic chặt chẽ Ví dụ văn “ cá tính thật ” viết “ cá tính dừng lại bề mặt ? ” Cá tính thời thượng, đại danh từ “ đẹp trai ”, “ngầu ” ? Không cá tính không thứ đó, mà quan trọng cá tính mang tính nội ! Không có cá tính nội cho 13 dù vẻ bề có đẹp lung linh hào nhoáng, không thực Bình hoa có đẹp không ? Thực bên trống rỗng Củ lạc vẻ sần sủi xấu xí bên hạt lại đầy Cá tính nội làm cho người khác cảm nhận đẹp thật Khi nói rõ cá tính thực sự, vận dụng tượng bề mặt cá tính nội để hình thành so sánh tường minh thái độ rõ ràng Các dạng nghị luận xã hội Dạng nghị luận tư tưởng, đaọ lý + Đề tài - Về nhận thức lí tưởng, mục đích sống - Về tâm hồn, tính cách lòng yêu nước, lòng nhân ái, tính khiêm tốn - Về quan hệ gia đình tình mẫu tử, tình anh em… - Về quan hệ xã hội tình đồng bào, tình thầy trò, tình bạn… + Cấu trúc triển khai tổng quát - Giới thiệu tư tưởng, đạo lý cần nghị luận - Giải thích tư tưởng, đạo lý cần bàn luận từ ngữ, khái niệm, nghĩa đen, nghĩa bóng… - Bàn luận tư tưởng đạo lý Phân tích mặt Bác bỏ biểu sai lệch có liên quan đến vấn đề bàn luận dẫn chứng từ đời sống văn học - Rút học nhận thức hành động tư tưởng, đạo lý + Một số đề tham khảo Đề 1 Hãy viết văn ngắn trình bày suy nghĩ anh chị quan niệm sau “Hỏi câu dốt lát Không hỏi dốt suốt đời” Danh ngôn phương Tây - Dẫn theo Từ điển danh ngôn Nguyễn Nhật Hoài Vũ Tiến Quỳnh *Các ý chính + Giải thích - Nội dung câu danh ngôn đề cập đến vấn đề nhận thức, hỏi hay không hỏi thân người gặp phải vấn đề nan giải - Có thể ta hỏi, ta có khả bị cho chưa đủ trình độ để giải đáp việc, chí bị xem dốt, dốt thoáng chốc sau ta có câu giải đáp đầy đủ vấn đề - Nếu sĩ diện không hỏi, thiếu thông suốt vấn đề đeo đẳng ta, có suốt đời 14 + Bàn luận quan niệm - Hỏi nhu cầu tất yếu người gặp phải vấn đề chưa thật rõ vượt qúa nhận thức - Mục đích việc hỏi để biết, giỏi Việc hỏi để hiểu biết nâng cao nhận thức cần xem việc bình thường cần thiết điều ta biết có giới hạn - Quan niệm cho hỏi vấn đề bị người khác cho trình độ thấp quan niệm không mặt khoa học lẫn nhận thức + Bài học nhận thức hành động - Câu danh ngôn giúp người nhận thức thêm vấn đề cần trao đổi để nâng cao kiến thức - Việc học nhà trường cần bổ sung liên tục việc người trao đổi với điều chưa rõ để tất rõ Đề 2 Hãy viết văn ngắn trình bày suy nghĩ anh, chị quan niệm Domat “Có ba điều để tạo nên hạnh phúc thân thể khỏe mạnh, tinh thần minh mẫn trái tim sạch.” *Các ý chính + Giải thích - Ba yếu tố cần có để tạo nên sống hạnh phúc cho người sức khỏe ăn ngon, ngủ yên, hưởng thụ, … ; tinh thần khỏe khoắn, sáng suốt giúp người hoàn thành tốt công việc, góp phần làm nên thành công ; trái tim tâm hồn sáng, thể xác tinh thần yên ổn, an lạc + Bàn luận quan niệm - Quan niệm Domat đắn, khó lòng mà hạnh phúc thể ôm đau, tinh thần thiếu sáng suốt - Những quan niệm cho có đầy đủ vật chất có hạnh phúc cần có thân thể khỏe mạnh, tinh thần minh mẫn có hạnh phúc… quan niệm chưa thỏa đáng Tất nhiên, nêu thêm vài yếu tố có khả dẫn người đến hạnh phúc cần hiểu quan niệm dẫn quan niệm hợp lý tích cực + Bài học nhận thức hành động Phải biết giữ gìn lành mạnh cho thể xác, tinh thần, tâm hồn có hạnh phúc Dạng nghị luận tượng đời sống + Đề tài 15 - Môi trường hiện tượng Trái đất nóng lên, thiên tai, ô nhiễm… - Ứng xử văn hóa lời cám ơn, lời xin lỗi, cách nói nơi công cộng… - Hiện tượng tiêu cực nghiện thuốc lá, bạo lực gia đình, học sinh đánh trường học… - Hiện tượng tích cực hiến máu nhân đạo, chương trình mùa hè xanh, xây nhà tình nghiã, người tốt việc tốt… + Cấu trúc triển khai tổng quát - Giới thiệu tượng đời sống cần nghị luận - Nêu rõ tượng - Bàn luận tượng Chỉ nguyên nhân dẫn đến tượng Phân tích mặt đúng, sai, lợi, hại Dùng dẫn chứng từ sống để chứng minh - Bày tỏ thái độ, ý kiến thân tượng + Một số đề tham khảo Đề 1 Anh chị nghĩ tượng số người chọn cách sống ngồi trông chờ may mắn đến với mình? *Các ý chính + Nêu tượng Trong xã hội ngày nay, có tượng số người chọn cho cách sống ngồi trông chờ may mắn đến với Họ lấy điều làm cho đời mình, thay cho việc sức học tập làm việc + Bàn luận tượng - Sở dĩ có tượng người, mong may mắn, thuận lợi đến với mình, Chờ đợi may mắn đến với tâm lí chung người đời ẩn chứa bất trắc không lường hết - Tâm lý trông chờ may mắn có mặt tích cực Nó trì người niềm vui, niềm hi vọng để sống - Nhưng thụ động trông chờ may mắn dễ thất bại vì may mắn yếu tố bên ta, không phụ thuộc vào ý chí mong đợi ta; may mắn đến với ta; may mắn dẫn đến thành công. + Bày tỏ thái độ , ý kiến tượng xã hội đó - Tôn trọng ước muốn đợi chờ may mắn số người quanh ta phải cần thấy tượng trông chờ vào may mắn tượng mang tính phiêu lưu, xác suất rủi ro cao 16 - Nên chờ đợi may mắn đến với đời người, phải phấn đấu, nỗ lực học tập công việc Bởi nỗ lực giúp người thành công - Xét mức độ may mắn làm việc tạo hội để may mắn có điền kiện đến với ta nhiều Đế 2 đề thi tuyển sinh đại học năm 2010 - khối C Như thứ a-xit vô hình, thói vô trách nhiệm cá nhân ăn mòn xã hội Từ ý kiến trên, anh chị viết văn ngắn trình bày suy nghĩ tinh thần trách nhiệm thói vô trách nhiệm người sống *Các ý chính + Giải thích ý kiến - Về nội dung, ý kiến đề cập đến mối nguy hại ngấm ngầm cần cảnh giác thói vô trách nhiệm; xuất phát từ cá nhân lại gây hậu to lớn toàn xã hội - Về thực chất, ý kiến cảnh báo vấn nạn đạo đức mang tính thời sự thói vô trách nhiệm hậu khôn lường + Luận bàn tinh thần trách nhiệm thói vô trách nhiệm người - Tình thần trách nhiệm Tinh thần trách nhiệm ý thức nỗ lực nhằm hoàn thành tốt phận Nó biểu cụ thể, sống động ba mối quan hệ cá nhân với gia đình, cá nhân với toàn xã hội nhân với thân Tinh thần trách nhiệm phẩm chất cao đẹp, thước đo giá trị người; sở để xây dựng hạnh phúc gia đình; đồng thời tinh thần trách nhiệm góp phần quan trọng tạo nên quan hệ xã hội tốt đẹp, thúc đẩy phát triển xã hội - Thói vô trách nhiệm Thói vô trách nhiệm biểu lối sống phi đạo đức, thể ý thức hành động không làm tròn phận xã hội, gia đình thân, gây nên hậu tiêu cực Hiện nay, nhiều nguyên nhân khác nhau, lối sống phổ biến, trở thành vấn nạn xã hội Tác hại thói vô trách nhiệm làm băng hoại đạo đức người; gây tổn hại hạnh phúc gia đình; gây tổn thất cho cộng đồng, kìm hãm phát triển tiến xã hội 17 + Bài học nhận thức hành động - Bản thân cần nhận thức sâu sắc tinh thần trách nhiệm thước đo phẩm giá người; không ngừng nâng cao ý thức trách nhiệm lĩnh vực đời sống - Cần ý thức rõ tác hại có thái độ kiên đấu tranh với biểu thói vô trách nhiệm xã hội Dạng nghị luận vấn đề xã hội tác phẩm văn học + Đề tài Một vấn đề xã hội có ý nghĩa sâu sắc đặt tác phẩm văn học Vấn đề xã hội có ý nghĩa lấy từ hai nguồn tác phẩm văn học học chương trình câu chuyện nhỏ, văn văn học ngắn gọn mà HS chưa học + Cấu trúc triển khai tổng quát - Phần một Phân tích văn hoặc nêu vắn tắt nội dung câu chuyện để rút ý nghĩa vấn đề hoặc câu chuyện - Phần hai trọng tâm Nghị luận phát biểu ý nghĩa vấn đề xã hội rút từ tác phẩm văn học câu chuyện + Đề tham khảo Đề bài Câu chuyện bốn nến Trong phòng tối có bốn nến cháy Xung quanh thật yên tĩnh đến mức nến nghe tiếng thầm Ngọn nến thứ nói Tôi than hòa bình Các nơi Tôi thực quan trọng cho người Ngọn nến thứ hai lên tiếng Tôi thân lòng trung thành Hơn tất cả, người phải cần đến Đến lượt nến thứ ba nói Tôi thân tình yêu Tôi thực quan trọng, thử xem tình yêu đời ? Đột nhiên cánh cửa mở toang Một cậu bé chạy vào phòng, gió lùa vào làm tắt ba nến - Tại ba nến lại tắt – cậu bé sửng sốt nói òa lên khóc Lúc nến thứ tư lên tiếng Đừng lo lắng cậu bé, cháy thắp sáng nến niềm hi vọng Lau giọt nước mắt đọng lại, cậu bé thắp sáng nến vừa tắt Ngọn lửa hi vọng theo bạn suốt đời Theo Cẩm nang giáo dục kỹ sống cho HS trung học 18 Hãy viết văn nghị luận Khoảng 600 từ trình bày suy nghĩ anh chị sau đọc câu chuyện Các ý chính + Giới thiệu giải thích vấn đề cần nghị luận -Tóm tắt ngắn gọn nội dung câu chuyện Trong phòng tối có bốn nến cháy Ba nến tranh cho quan trọng thân hòa bình, lòng trung thành tình yêu Khi cậu bé vào phòng gió làm tắt ba nến Cậu bé òa khóc Ngọn nến thứ tư lên tiếng an ủi cậu bé – nến hi vọng Cậu bé thắp lại nến vừa tắt - Câu chuyện nêu lên ý nghĩa nhân sinh sống Hòa bình, lòng trung thành, Tình yêu quan trọng lí giải quan trọng đó Nhưng niềm hi vọng quan trọng đánh điều đó, gặp khó khan hay thất bại đường đời, có niềm hi vọng người làm điều lớn lao , giúp người vượt qua khó khăn sống + Bàn luận - Câu chuyện thể quan niệm đắn có ý nghĩa học nhân sinh - Quan niệm không với người, thời mà có ý nghĩa thời đại, hoàn cảnh, động lực giúp người sống tốt hơn, có ý nghĩa - Trong sống người gặp thuận lợi , thành công Điều quan trọng phải biết đứng dậy sau vấp ngã, thất bại Để làm điều thắp lên lửa hi vọng để lửa hi vọng theo ta suốt đời - Nếu trái tim người cháy lên lửa hi vọng tìm điều tốt đẹp sống hòa bình , lòng trung thành tình yêu - Nhưng hi vọng mà không gắn với hành động cụ thể, thiết thực hi vọng viễn vông, hão huyền khó đạt thành công - Thực tế hiên cho thấy, có phận người, đặc biệt niên có lối sống buông thả, thiếu kỹ gặp chút khó khăn nản chí, nản lòng, gặp thất bại bi quan, tuyệt vọng Đó biểu lối sống tiêu cực + Bài học nhận thức hành động - Hãy giữ lửa niềm hi vọng động lực giúp người vượt qua khó khăn, thất bại để đến thành công sống - Biến niềm hi vọng thành hành động cụ thể, thiết thực 19 - Phê phán lối sống buông xuôi, bi quan, yếm Tổ chức thực kết Tổ chức thực hiện - Tổ chức thực khối lớp, 11C1, 11C3, 11C4 - Thực tập trung đội tuyển học sinh giỏi tham gia thi HSG cấp trường dành cho Khối 11 Kết quả - Khoá học 2014 - 2015 lớp tổng số 125 HS có em xếp loại giỏi, 28 em xếp loại khá, 78 em xếp lại TB - Khoá học 2015 -2016 lớp tổng số 125 HS có em xếp loại giỏi, 37 em xếp loại khá, 69 em xếp lại TB Đội tuyển học sinh giỏi môn văn tham dự kì thi học sinh giỏi cấp trường dành cho HS K 11 đạt giải/ học sinh tham dự có 1ba giải khuyến khích III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ KẾT LUẬN Cùng với rèn luyện kĩ năng, việc cung cấp kiến thức cho học sinh nêu cần thiết để học sinh làm tốt văn nghị luận xã hội Rèn luyện kỹ làm nghị luận xã hội rèn luyện cho học sinh nắm vững dạng đề, nắm vững thao tác lập luận bước triển khai luận điểm, luận chứng, luận cứ, áp dụng vào đề cụ thể để có viết tốt Đặc biệt người thầy cần có biện pháp để giúp HS ý thức việc học môn Ngữ văn thực hành làm văn Dù em có lựa chọn tương lai với ngành nghề em vận dụng tốt ngôn ngữ hoạt động giao tiếp XH KIẾN NGHỊ Hiện tư liệu liên quan đến nội dung thuộc phạm trù khoa học xã hội nhân văn thư viện nhà trường thiếu nhiều Đề nghị thư viện bổ sung thêm sách đặc biệt sách NLXH để học sinh giáo viên có điều kiện tham khảo, học tập Nhà trường cần hỗ trợ kinh phí cho học sinh để em photo văn cần thiết trình tự học XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ Thanh Hóa, ngày 19 tháng năm 2016 Tôi xin cam đoan SKKN viết, không chép nội dung người khác 20 Hoàng Hữu Nghĩa 21 TÀI LIỆU THAM KHẢO Nghị luận xã hội Phan Trọng Luận Nghị luận xã hội Bùi Thức Phước Sách giáo khoa Ngữ văn lớp 10, lớp 11, lớp 12 sách giáo viên Ngữ văn lớp 10, lớp 11, lớp 12 Nhà xuất Giáo dục, Hà Nội năm 2011 Chương trình bồi dưỡng học sinh giỏi 12 Trương Văn Quang Đề thi THPT Quốc gia hướng dẫn chấm qua năm 22 ... KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ KẾT LUẬN Cùng với rèn luyện kĩ năng, việc cung cấp kiến thức cho học sinh nêu cần thiết để học sinh làm tốt văn nghị luận xã hội Rèn luyện kỹ làm nghị luận xã hội rèn luyện. .. tham khảo cho GV tổ chuyên môn tham khảo dạy NLXH ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU - Một số biện pháp rèn luyện kỹ làm văn nghị luận xã hội cho học sinh THPT - Các viết thực hành NLXH có chương trình THPT lớp... nhiệm xã hội Dạng nghị luận vấn đề xã hội tác phẩm văn học + Đề tài Một vấn đề xã hội có ý nghĩa sâu sắc đặt tác phẩm văn học Vấn đề xã hội có ý nghĩa lấy từ hai nguồn tác phẩm văn học học - Xem thêm -Xem thêm Một số biện pháp rèn luyện kỹ năng làm văn nghị luận xã hội cho học sinh THPT , Một số biện pháp rèn luyện kỹ năng làm văn nghị luận xã hội cho học sinh THPT , PAGE \* MERGEFORMAT 50TỰ CHỌN 1 RÈN LUYỆN KĨ NĂNG LÀM VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘIMục tiêu bài học- Biết viết bài văn nghị luận xã hội về 1 tư tưởng đạo lí hoặc một hiện tượng đời sống gần gũi giản dị nhưng sâu Rèn luyện kĩ năng viết bài văn nghị luận về tư tưởng đạo lí và một hiện tượng đời BẢNG MÔ TẢ CÁC MỨC ĐỘ ĐÁNH GIÁ BÀI “RÈN LUYỆN KĨ NĂNG LÀM VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI” THEO ĐỊNH HƯỚNG NĂNG LỰCNhận biếtThông hiểuVận dụng thấpVận dụng cao- Khái niệm văn nghị luận xã hội- Cách làm bài văn nghị luận xã hội- Cách lập dàn ý nghị luận xã hội-Hiểu được kiến thức văn nghị luận xã hội-Hiểu được các thao tác, cách thức làm nghị luận xã tích được đề bài nghị luận xã được đoạn nghị luận xã hội-Làm được bài văn nghị luận xã hội về một tư tưởng đạo lí hoặc một hiện tượng đời dụng sự hiểu biết về văn nghị luận xã hội trong nói và viết. Phương tiện, thiết bị SGK, SBT, Giáo ánPhương pháp thực hiện Tích hợp , Phát vấn, làm bài tập, áp Tiến trình lên lớpỔn định lớp và kiểm tra sĩ sốHOẠT ĐỘNG 1 KHỞI ĐỘNGCâu Hỏi Em hiểu gì về văn nghị luận xã mớiHoạt động của GV và HSNội dung cần đạtHOẠT ĐỘNG 2 HÌNH THÀNH KIẾN THỨCThao tác 1 Định hướng những ý cơ bản trong hai dạng đề nghị luận xã hộiGV gọi HS trình bày những hiểu biết cơ bản về văn nghị luận xã hội. Từ đó sửa chữa, bổ động Luyện tập GV và học sinh giải các đề văn ĐỀ 1 một tư tưởng, đạo lý“Mỗi con vật khi sinh ra đều là tất cả những gì mà nó có. Chỉ có con người là ngay từ thuở lọt lòng thì chẳng là gì cả. Nó phải làm như thê nào thì nó sẽ được trở thành như thế ấy, và nó phải tự làm bằng tự do của chính nó. Tôi chỉ có thể trở thành kẻ do chính tôi làm ra". Anh chị hãy bình luận ý kiến trênĐỀ 2 Nhà văn Đức F. Sile có nói “ Tình yêu là niềm say mê làm cho người khác được hạnh phúc”. Em nghĩ gì về ý kiến đó?Hoạt động 4 Vận dụngGV hướng dẫn HS làm đề văn sauAnh chị hãy viết một bài luận với tiêu đề Lợi ích của việc tự động 5 Mở rộngGV cho một số đề để học sinh về nhà luyện tập* Đề 1 Trả lời câu hỏi điều tra của nhà bác học Han tơn, nhà bác học Đacuyn nói về kinh nghiệm thành công của mình như sau "Tôi nghĩ rằng tất cả những gì có giá trị một chút, tôi đều đã thu nhận được bằng cách tự học”. Anh /chị hãy viết một bài văn ngắn trình bày những suy nghĩ của mình về câu nói trên.* Đề 2 M. Farađây có nói “Mọi thứ rồi sẽ qua đi, chỉ còn tình người ở lại”. Hãy viết một bài văn ngắn trình bày suy nghĩ của anh/chị về câu nói Định hướng làm bài văn nghị luận xã hội1. Nghị luận về một tư tưởng đạo lí- Mở bài+ Giới thiệu vấn đề nghị luận+ Trích dẫn ý kiến- Thân bài+ Giải thích từ ngữ, khái niệm+ Phân tích, bình luận những mặt đúng/hay/tốt+ Bác bỏ những biểu hiện sai lệch - Kết bài+ Tóm tắt, khẳng định vấn đề nghị luận+ Bài học nhận thức và hành động 2. Nghị luận về một hiện tượng đời sống-Mở bài+ Giới thiệu hiện tượng đời sống-Thân bài+Nêu hiện tượng+ Thực trạng, hậu quả+ Phân tích nguyên nhân khác quan, chủ quan + Phân tích những giải pháp- Kết bài+ Tóm tắt, khẳng định hiện tượng+ Bài học nhận thức và hành độngII. Thực hànhHọc sinh có thể trình bày một số ý cơ bản sau ĐỀ rõ ý tưởng của câu nói trên-Mỗi con vật sinh ra đã là tất cả vì nó sinh ra thế nào thì lớn lên như thế người từ thuở lọt lòng chẳng là gì cả bởi lẽ tự thân mỗi người đã phải thực hiện nhiệm vụ trở thành con trở thành một con người ,mỗi cá nhân không chỉ chịu tác động những điều kiện khách quan gia đình , xã hội … mà quan trọng là tự thân mỗi người phải có ý thức rèn luyện tu dưỡng , phát huy năng lực và khắc phục yếu kém để hoàn thiện mình. Trình bày ý kiến, kết hợp dẫn chứng minh được ý nghĩa vấn đề -Ý kiến trên muốn nhấn mạnh dù điều kiện hoàn cảnh có như thế nào thì con người vẫn chịu trách nhiệm trước nhân cách của mình , phải có ý thức tu dưỡng rèn luyện đạo đức, tài năng để trở thành người hữu dụng. “Tôi chỉ có thể trở thành kẻ do chính tôi làm ra”.*Thao tác vận dụng linh hoạt và sáng tạo các thao tác nghị luận giải thích, chứng minh, bình luận...*Phạm vi tư liệu Thực tế đời sống* Yêu cầu chung - Giải thích, chứng minh ý kiến của F. Sile, qua đó đánh giá ý kiến đó đúng, sai như thế Trên cơ sở khái nệm về tình yêu, hãy nhận định vai trò của tình cảm đó trong cuộc sống, đời sống riêng và đời sống chung trong toàn xã Bài làm có lí lẽ, có dẫn chứng lấy từ đời sống, từ trong văn học đều được. * Yêu cầu về kiến thức1. Giải thích -Việc giải thích tình yêu là gì không dễ dàng một chút nào, song người ta không thể trả lời câu hỏi đó mà không liên hệ đến ý nghĩa cuộc sống của con người, bởi tình yêu gắn liền với bản chất cuộc sống, ý nghĩa cuộc sống. Chính ở đây F. Sile cung cấp cho ta một cách hiểu đúng đắn, tích Tình yêu đúng là một say mê. Không thể có tình yêu khi con người tỉnh khô, dửng dưng, vô Nhưng con người say mê cái gì, say mê như thế nào để cho một niềm say mê trở thành tình yêu?- Say mê tiền bạc, say mê danh vọng, địa vị cá nhân say mê hưởng thụ, thực ra chỉ là một sự đam mê làm cho con người thấp hèn và nô lệ nó. Những tình cảm đó không thể gọi là tình yêu…- Tình yêu là một tình cảm khác hẳn, tình cảm cao thượng đúng như Sile nói, đó là niềm say mê làm cho người khác được hạnh Tình yêu là một tình cảm hiến dâng để thoả mãn người khác, là mong muốn cho người khác được sung Hiển nhiên, người khác là người đáng yêu theo một lí tưởng nhất một người yêu người khác đến một mức tha thiết. thì người ta có thể quên mình để làm cho người đó hạnh Tình yêu trong cách hiểu của Sile không giản đơn là tình yêu nam nữ, mà là cả tình yêu người khác. Người khác có thể là người yêu một người khác giới tính , có thể là thành viên trong gia đình cha mẹ, con cái…, có thể là bè bạn, đồng nghiệp, có thể là đồng bào, nhân Tình yêu là sản phẩm của những tâm hồn phong phú, giàu có, tự cảm thấy có khả năng làm cho người khác hạnh phúc. Nhưng không chỉ đơn thuần chỉ là cho, mà còn là quan tâm, trách nhiệm, bảo vệ làm cho người được yêu hạnh Chứng minh- Một tình yêu như thế sẽ là sức mạnh gìn giữ những giá trị trong sáng trong cuộc sống, làm sinh sôi nảy nở thêm tình yêu. Tình bạn sẽ được đáp lại bằng tình bạn, tình yêu sẽ được đáp lại bằng tình yêu…, lòng rộng mở sẽ được đáp lại bằng những tấm lòng rộng mở. Như vậy, niềm say mê làm cho người khác được hạnh phúc cũng là niềm say mê xây dựng một môi trường hạnh phúc cho chính mình, làm cho mọi người hiểu nhau, đến với nhau, khắc phục sự cô đơn, biệt lập cố hữu của con Học sinh phải dùng dẫn chứng tiêu biểu và sâu sắc trong cuộc sống hoặc trong văn học để làm rõ những luận điểm vận dụngÝ 1 Thế nào là tự học? 1,0 điểm.- Tự học là tự thân học tập, là quá trình tự tổ chức hoạt động lĩnh hội kiến thức, thuộc về tư duy bên trong của bản thân chủ Đây là một phương pháp học tập đem lại nhiều lợi ích, nhất là trong thời đại ngày 2 Lợi ích của việc tự học? 5,0 điểm.- Giúp mỗi người sử dụng thời gian hợp lý, chủ động, có hiệu Giúp giải quyết được một số mâu thuẫn Kiến thức nhân loại thì vô cùng mà tuổi học đường có giới hạn; nhu cầu, khát vọng chiếm lĩnh tri thức thì lớn mà hoàn cảnh cuộc sống cá nhân không có điều kiện thuận lợi...- Giúp con người tiếp nhận tri thức một cách tự chủ, có hiệu quả, rèn luyện ý chí bền bỉ, khả năng học tập không ngừng, học tập suốt đời ...- Phát huy được tính độc lập, sáng tạo của con người trong việc tiếp nhận tri thức của nhân 3 Cần phải tự học như thế nào? 2,0 điểm.- Phải đầu tư thời gian thoả đáng, thích Có kế hoạch hợp lý, khoa Song song với quá trình tự học là quá trình tự kiểm tra và đánh Cần phối hợp phương pháp tự học với các loại hình, phương pháp học tập cố, dặn dò Củng cố Lưu ý dàn ý chung bài văn nghị luận xã hộiDặn dò Hướng dẫn tự học Về nhà thực hành làm văn nghị luận xã hội; Soạn bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí TỰ CHỌN 2 CÁCH VIẾT ĐOẠN VĂN NGHỊ LUẬN XÃ đích yêu cầuGiúp HS-Có kiến thức, kĩ năng làm kiểu bài nghị luận về 1tư tưởng đạo được những tư tưởng đạo lí từ các bài rút ra cho bản thân những bài BẢNG MÔ TẢ CÁC MỨC ĐỘ ĐÁNH GIÁ BÀI “CÁCH VIẾT ĐOẠN VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI” THEO ĐỊNH HƯỚNG NĂNG LỰCNhận biếtThông hiểuVận dụng thấpVận dụng cao- Cách làm bài văn nghị luận xã hội về một tư tưởng, đạo Cách lập dàn ý nghị luận xã hội về một tư tưởng, đạo được kiến thức văn nghị luận xã hội về một tư tưởng, đạo được các thao tác, cách thức làm nghị luận xã hội về một tư tưởng, đạo tích được đề bài nghị luận xã hội về một tư tưởng, đạo được đoạn nghị luận xã hội về một tư tưởng, đạo được bài văn nghị luận xã hội về một tư tưởng đạo dụng sự hiểu biết về văn nghị luận xã hội trong nói và CHUẨN BỊ- Phương tiện sgk, kế hoạch dạy họcIV. PHƯƠNG PHÁPPhương pháp phát vấn, thảo luận nhóm, diễn TRÌNH DẠY HỌCỔn định tổ ĐỘNG 1 KHỞI tra bài động của GV-HS Nội dung cần đạtHOẠT ĐỘNG 2; HÌNH THÀNH KIẾN THỨCGV yêu cầu h/s nhắc lại kiến thức đã học về cách làm kiểu bài nghị luận về 1 tư tưởng đạo ĐỘNG 3,4 LUYỆN TẬP, VẬN DỤNGGV hướng dẫn HS tìm hiểu đề và lập dàn ý theo nhóm .GV cử đại diện nhóm trả lời theo các phần của tìm hiểu ĐỘNG 5 TÌM TÒI MỞ RỘNG-Nhắc lại kĩ năng làm bài tập về nhà suy nghĩ của em về câu tục ngữ sau “Cái nết đánh chết cáiđẹp” tập lí Nêu luận điểm- Giải thích- Lí giải, phân tích- Chứng minh- Phê phán những biểu hiện sai lệch- Chứng minh- Bài học nhận thức và hành tập tích đề, lập dàn ý cho đề bài sauPhải chăng “Bạn là người đến với ta khi mọi người đã bỏ ta đi”.*Dàn Mở đoạn-Giới thiệu và trích dẫn ý kiến thế nào là 1người bạn đích thực? một tình bạn đẹp? đoạn-Thế nào là bạn? là tình bạn?-Tại sao” bạn là người đến với ta khi mọi người đã bỏ ta đi?”+Khi mọi người bỏ ta đi là khi ta gặp khó khănvề vật chất ,về tinh thần.+Người đến với ta khi ấy là ng]ời có tấm lòng chân thành, thực sự yêu mến không vụ niệm về tình bạn trong sáng, cao thượng luôn sẻ chia giúp đỡ là chỗ dựa cho nhau...-Bài học rút ra cho bản thân cần xây dựng cho mình 1 tình bạn trong sáng,đẹp đoạn-ý kiến trên khẳng định sự chân thành, chung thuỷ,trọn vẹn của tình bạn là thứ tình cảm cao quý của con người, mỗi chúng ta cần sống tốt và xây dựng cho mình 1tình bạn Bài tập dàn ý cho đề bài sauSuy nghĩ của em về câu nòi sau”Cái chết không phải là điều mất mát lớn nhất trong cuộc mất mát lứn nhất là bạn để cho tâm hồn tàn lụi ngay khi còn sống” Ku-sin*Dàn ý đoạn-Sống trên đời, ai cũng lo sợ trước cái chết ;cái chết là 1 mất mát đối với con người. Nhưng cái chết chưa phải là điều mất mát lớn nhất .-Giới thiệu và dẫn câu nói của thích câu nói của pu-sin+Cái chết là dừng lại sự sống về mặt thể xác.+Tâm hồn khô héo, tàn lụi tâm hồn trở nên khô khan, cứng nhắc, không yêu thương..->cái chết về tâm hồn.+Sự mất mát lớn nhất của con người là để cho tâm hồn khô héo, tàn lụi ngay khi còn giả gửi đến bạn đọc lời nhắn nhủ hãy làm cho tâm hồn mình tươi mát, dào dạt những yêu thương...-Tại sao để cho tâm hồn tàn lụi ngay khi còn sống lại là điều mất mát lớn nhất+Khi đó con người trở nên khô khan không biết rung động trước cuộc sốngthiên nhiên, con người,không đón nhận được những vang vọng của cuộc đời.+Khi đó con người trở nên lãnh đạm, cứng nhắc, không biết yêu thương và không chia sẻ với đồng tâm hồn tàn lụi, khô héo con người không có sự giao lưu về tình cảm, cảm xúc đối với những người xung quanh->trở thành 1ốc đảo cô đơn, lạnh lẽo->chết ngay khi còn cho tâm hồn không tàn lụi ngay khi còn sốngta cần phải làm gì?+Biết quan tâm sẻ chia với những vui buồn,cảm xúc,cảm giác của người thân, bạn bè; tham gia vào những hoạt động xã hội, giúp ích cho cộng đồng.+Đón nhận tình cảm của mọi người 1 cách chân học rút ra cho bản đoạn-Ý kiến của Pu-sin giúp cho mỗi người biết bồi dưỡng cho tâm hồn trở nên trẻ trung, yêu đời yêu cuộc HS cần biết học tập và sống sao cho không để tuổi trẻ trôi đi 1 cách nhạt nhoà, đơn HƯỚNG DẪN HỌC SINH TỰ HỌC4. Củng cố - Những lưu ý khi làm văn nghị luận xã Dặn dò- Sưu tầm dẫn chứng cho văn nghị luận xã hội- Chuẩn bị Bài viết số 1…………………………………………………………………………………TỰ CHỌN 3 TÌM HIỂU THÊM VỀ TÁC PHẨM TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP CỦA HỒ CHÍ đích yêu cầuGiúp HS-Các giá trị của bản mẫu mực về thể loại chính được tình cảm của HCM khi viết thống lập luận chặt chẽ. B. Phương pháp, phương tiện- Phương pháp phát vấn, thảo luận nhóm, diễn giảng- Phương tiện sgk, kế hoạch dạy trình thực định tổ tra bài MÔ TẢ CÁC MỨC ĐỘ ĐÁNH GIÁ BÀI “TÌM HIỂU THÊM VỀ TÁC PHẨM TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP CỦA HỒ CHÍ MINH” THEO ĐỊNH HƯỚNG NĂNG LỰCNhận biếtThông hiểuVận dụng thấpVận dụng cao-Nhận biết cuộc đời, thời đại, sự nghiệp văn học của Hồ Chí Minh- Nhận biết thể loại, hoàn cảnh sáng tác, mục đích sáng tác-Hiểu được mối liên quan giữa cuộc đời, thời đại với sự nghiệp văn học của Hồ Chí Minh .- Hiểu được nghệ thuật lập luận của văn nghị luận-Cảm nhận được sơ lược những vẻ đẹp của giá trị nội dung và nghệ thuật của văn nghị luận qua tác phẩm Tuyên ngôn độc lập-Tranh luận, đánh giá, trình bày trước tập thể về những đặc sắc của nội dung, nghệ thuật Tuyên ngôn độc lập-Biết bình luận, đánh giá đúng đắn những ý kiến từ bài PHÁP, PHƯƠNG TIỆN1. Giáo viên Đọc tài liệu, SGK, SGV, kế hoạch dạy học2. Học sinh Ôn tập lại các thao tác lập luận, các dạng đề thường Phương pháp dạy học câu hỏi phát vấn, thảo luận TIẾN TRÌNH DẠY HỌC1. Kiểm tra bài cũ2. Giới thiệu bài mớiHoạt động của GV-HS nội dung cần đạt GV đưa ra nhứng câu hỏi về các lĩnh vực của TNĐL để HS có cái nhìn toàn diện về cho HS thảo luận theo từng câu hỏi .Cử đại diện nhóm trả lời,GV nhận xét, bổ sung,kết luận?HS chỉ ra những tình cảm của HCM khi viết TNĐL??Giá trị lịch sử của TN là gì??Chứng minh TNĐL là 1 tác phẩm văn học đích thực?. sao TNĐL là 1 văn bản chính luận nhưng vẫn giàu tính nhân bản?-Tính nhân bản cùa TNĐL được thể hiện ở những biểu hiện sau+Khẳng định quyền được sống,quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của con người và của mọi dân tộc.+Lên án tội ác đối với con người về các mặtchính trị, kinh tế, xã hội,văn hoá, luật pháp...+Xót xa trước những đau thương của nhân dân VN dưới ách đô hộ của thực dân Pdân ta chịu 2 tầng xiềng xích...dân ta càng cực khổ, nghèo nàn...chết đói...+Đề cao hành vi nhân đạo và khoan hồng của người VN với người P.+Lên án những hành vi hèn hạ,lật lọng của thực dân P. Khẳng định hành động dũng cảm đứng lên giành quỳên sống cũng như quyết tâm giữ vững nền độc lập, tự do của người không chỉ hấp dẫn bởi nghệ thuật nghị luận mẫu mực mà còn lay động sâu sắc người đọc bởi tình cảm thắm thiết của tác giả?Gợi ý sức lay dộng của những tình cảm thắm thiết của bản TNĐL được thể hiện ở+Thái độ căm phẫn của tác giả khi vạch trần tội ác của thực dân P với nhân dân ta nghệ thuật điệp từ chúng.+Tình cảm xót thương của tác giả khi nói đến nỗi đau của dân tộc tatắm các cuộc ...nòi giống ta suy nhược...dân ta nghèo nàn...+Tình cảm thiết tha mãnh liệt thái độ cương quyết, đanh thép khi nói đến quyền được hưởng tự do, độc lập...của nhân dân VN cũng như quyết tâm bảo vệ nền độc lập dân tộcsự thật là...chúng tôi tin rằng...quyết không thể không công nhận...1dân tộc đã gan góc...dân tộc đó phải được độc lập+Bài văn toát lên khát vọng ý chí mãnh liệt của tác giả cũng là của dân tộc ta.+Những tình cảm trên được biểu lộ qua 1 giọng điệu đặc biệt khi nồng nàn tha thiết, khi xót thương, khi hừng hực căm thù, khi hào sảng khích không chỉ là văn kiện lịch sử vô giá mà còn là 1 tác phẩm VH đích thực?*Gợi ý-TNĐL là 1 văn kiện lịch sử vô giá, vì nó có vị trí và vai trò hết sức quan trọng trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân TN đã tuyên bố chấm dứt chế độ phong kiến hàng nghìn năm, chấm dứt chế độ thực dân hàng trăm năm ở nước ta và mở ra 1 kỉ nguyên mới, thời kì độc lập,tự vậy,TNĐL còn là 1 TPVH đích thực nó mang đầy đủ đặc điểm của 1VB chính luận+Lập luận chặt chẽ phần mở đầu xác lập chân lí làm cơ sở cho những phần sau; phần chính, Bác đã phân tích tội ác của thực dân P đối với nhân dân VN và phe đồng minh chì ra nhân dân VN có quyền hưởng tự do, độc lập; từ những luận điểm đó, phần kết người khẳng định độc lập không chỉ là quyền mà còn là sự thật->cách triển khai như vậy là rất chặt chẽ và cương luận chặt chẽ còn được thể hiện trong cách dùng từđể diễn tả tội ác của thực dân P,Bác dùng những động từ và tính từ mạnh; trước khi tuyên bố độc lập,Bác tuyên bố 1 cách dứt khoát thoát li hẳn, xoá bỏ hết, xoá bỏ tất cả những mối quan hệ với P...->cách dùng từnhư vậy đã tạo nên tính chặt chẽ, hàm súc đặc biệt.+Lí lẽ đanh thép sắc sảo mỗi câu văn là 1lí lẽ.+Chứng cứ hùng hồn nếu không có chứng cứ cụ thể thì những lí lẽ không thể có sức TN đã sử dụng hàng loạt những bằng chứng, những sự thật để kết tội thực dân PVề chính trị, về kinh tế, về văn hoá..+TNĐL còn được viết bằng 1 trái tim nhiệt huýêt, một tình cảm mãnh CỦNG CỐ, DẶN DÒ-Hệ thống lại giá trị của bài tập cho HS về nhà làm Phân tích cái hay trong cách đặt vấn đề của Bác- Thường xuyên rèn luyện kĩ năng viết văn nghị RÚT KINH NGHIỆM……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………TỰ CHỌN 4TÌM HIỂU THÊM VỀ TÁC PHẨM “NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU, NGÔI SAO SÁNG TRONG VĂN NGHỆ DÂN TỘC”. A. MỤC TIÊU DẠY HỌC1. Kiến thức Nắm vững kiến thức về tác gia Nguyễn Đình Chiểu. - Khẳng định và phát huy sức mạnh của văn học nghệ thuật, của thơ văn Đồ Chiểu đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc trong thời đại Đánh giá đúng vẻ đẹp trong thơ văn của nhà thơ mù xứ Đồng Nai, đồng thời khôi phục giá trị đích thực của tác phẩm “Lục Vân Tiên”.Thể hiện mối quan hệ giữa văn học nghệ thuật và đời sống, giữa người nghệ sĩ chân chính với cuộc đời. Đặc biệt là khơi dậy tinh thần yêu nước, thương nòi của dân tộc từ cuộc đời và thơ văn của cụ Đồ Kĩ năng Cách viết bài văn nghị luận văn học3. Thái độ Yêu mến văn chương của NĐC, khâm phục trước tấm gương nghị lực và lòng yêu nước của nhà MÔ TẢ CÁC MỨC ĐỘ ĐÁNH GIÁ BÀI TÌM HIỂU THÊM VỀ TÁC PHẨM “NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU, NGÔI SAO SÁNG TRONG VĂN NGHỆ DÂN TỘC” THEO ĐỊNH HƯỚNG NĂNG LỰCNhận biếtThông hiểuVận dụng thấpVận dụng cao-Nhận biết cuộc đời, thời đại, sự nghiệp văn học của Phạm Văn Đồng- Nhận biết thể loại, hoàn cảnh sáng tác, mục đích sáng tác-Hiểu được mối liên quan giữa cuộc đời, thời đại với sự nghiệp văn học của Phạm Văn Đồng .- Hiểu được nghệ thuật lập luận của văn nghị luận-Cảm nhận được sơ lược những vẻ đẹp của giá trị nội dung và nghệ thuật của văn nghị luận qua tác phẩm Cảm nhận được vẻ đẹp của cuộc đời, thơ văn Nguyễn Đình luận, đánh giá, trình bày trước tập thể về những đặc sắc của nội dung, nghệ thuật -Biết bình luận, đánh giá đúng đắn những ý kiến từ bài họcB THIẾT BỊ DẠY HỌC1. Giáo viên Đọc tài liệu, SGK, SGV, kế hoạch dạy học2. Học sinh Ôn tập lại tác Phương pháp dạy học câu hỏi phát vấn, thảo luận HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC1. Kiểm tra bài cũ 2. Giới thiệu bài mới ĐỘ Tài liệu "Rèn luyện kĩ năng viết bài nghị luận tác phẩm văn học cho học sinh lớp 9" có mã là 233252, file định dạng doc, có 24 trang, dung lượng file 304 kb. Tài liệu thuộc chuyên mục Luận văn đồ án > Sư phạm. Tài liệu thuộc loại BạcNội dung Rèn luyện kĩ năng viết bài nghị luận tác phẩm văn học cho học sinh lớp 9Trước khi tải bạn có thể xem qua phần preview bên dưới. Hệ thống tự động lấy ngẫu nhiên 20% các trang trong tài liệu Rèn luyện kĩ năng viết bài nghị luận tác phẩm văn học cho học sinh lớp 9 để tạo dạng ảnh để hiện thị ra. Ảnh hiển thị dưới dạng slide nên bạn thực hiện chuyển slide để xem hết các lưu ý là do hiển thị ngẫu nhiên nên có thể thấy ngắt quãng một số trang, nhưng trong nội dung file tải về sẽ đầy đủ 24 trang. Chúng tôi khuyễn khích bạn nên xem kỹ phần preview này để chắc chắn đây là tài liệu bạn cần preview Rèn luyện kĩ năng viết bài nghị luận tác phẩm văn học cho học sinh lớp 9Nếu bạn đang xem trên máy tính thì bạn có thể click vào phần ảnh nhỏ phía bên dưới hoặc cũng có thể click vào mũi bên sang trái, sang phải để chuyển nội dung sử dụng điện thoại thì bạn chỉ việc dùng ngón tay gạt sang trái, sang phải để chuyển nội dung slide. Click vào nút bên dưới để xem qua nội dung tài liệu Rèn luyện kĩ năng viết bài nghị luận tác phẩm văn học cho học sinh lớp 9 sử dụng font chữ gì?File sử dụng loại font chữ cơ bản và thông dụng nhất Unicode hoặc là TCVN3. Nếu là font Unicode thì thường máy tính của bạn đã có đủ bộ font này nên bạn sẽ xem được bình thường. Kiểu chữ hay sử dụng của loại font này là Times New Roman. Nếu tài liệu Rèn luyện kĩ năng viết bài nghị luận tác phẩm văn học cho học sinh lớp 9 sử dụng font chữ TCVN3, khi bạn mở lên mà thấy lỗi chữ thì chứng tỏ máy bạn thiếu font chữ này. Bạn thực hiện tải font chữ về máy để đọc được nội thống cung cấp cho bạn bộ cài cập nhật gần như tất cả các font chữ cần thiết, bạn thực hiện tải về và cài đặt theo hướng dẫn rất đơn giản. Link tải bộ cài này ngay phía bên phải nếu bạn sử dụng máy tính hoặc phía dưới nội dung này nếu bạn sử dụng điện thoại. Bạn có thể chuyển font chữ từ Unicode sang TCVN3 hoặc ngược lại bằng cách copy toàn bộ nội dung trong file Rèn luyện kĩ năng viết bài nghị luận tác phẩm văn học cho học sinh lớp 9 vào bộ nhớ đệm và sử dụng chức năng chuyển mã của phần mềm gõ tiếng việt Unikey. Từ khóa và cách tìm các tài liệu liên quan đến Rèn luyện kĩ năng viết bài nghị luận tác phẩm văn học cho học sinh lớp 9Trên Kho Tri Thức Số, với mỗi từ khóa, chủ đề bạn có thể tìm được rất nhiều tài liệu. Bạn có thể tham khảo hướng dẫn sau đây để tìm được tài liệu phù hợp nhất với bạn. Hệ thống đưa ra gợi ý những từ khóa cho kết quả nhiều nhất là Rèn luyện kĩ năng, hoặc là Rèn luyện kĩ năng tìm được nội dung có tiêu đề chính xác nhất bạn có thể sử dụng Rèn luyện kĩ năng viết bài, hoặc là Rèn luyện kĩ năng viết bài nhiên nếu bạn gõ đầy đủ tiêu đề tài liệu Rèn luyện kĩ năng viết bài nghị luận tác phẩm văn học cho học sinh lớp 9 thì sẽ cho kết quả chính xác nhất nhưng sẽ không ra được nhiều tài liệu gợi có thể gõ có dấu hoặc không dấu như Ren luyen ki nang, Ren luyen ki nang viet, Ren luyen ki nang viet bai, Ren luyen ki nang viet bai nghi, đều cho ra kết quả chính xác. viết nghị tác phẩm luyện Rèn Rèn luyện nghị luận năng luận viết bài Rèn luyện kĩ Rèn luyện sinh cho học lớp Rèn luyện kĩ năng viết văn học cho văn học kĩ năng phẩm 9 Rèn luyện kĩ năng kĩ Rèn luyện kĩ năng viết bài nghị Rèn luyện kĩ năng viết bài sinh lớp học bài tác Các chức năng trên hệ thống được hướng dẫn đầy đủ và chi tiết nhất qua các video. Bạn click vào nút bên dưới để xem. Có thể tài liệu Rèn luyện kĩ năng viết bài nghị luận tác phẩm văn học cho học sinh lớp 9 sử dụng nhiều loại font chữ mà máy tính bạn chưa có. Bạn click vào nút bên dưới để tải chương trình cài đặt bộ font chữ đầy đủ nhất cho bạn. Nếu phần nội dung, hình ảnh ,... trong tài liệu Rèn luyện kĩ năng viết bài nghị luận tác phẩm văn học cho học sinh lớp 9 có liên quan đến vi phạm bản quyền, bạn vui lòng click bên dưới báo cho chúng tôi biết. Gợi ý liên quan "Rèn luyện kĩ năng viết bài nghị luận tác phẩm văn học cho học sinh lớp 9" Click xem thêm tài liệu gần giống Chuyên mục chứa tài liệu "Rèn luyện kĩ năng viết bài nghị luận tác phẩm văn học cho học sinh lớp 9" Tài liệu vừa xem Rèn luyện kĩ năng viết bài nghị Rèn luyện kĩ năng viết Rèn luyện Rèn luyện kĩ năng Rèn luyện kĩ năng viết bài Rèn luyện kĩ SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA TRƯỜNG THPT HÀ TRUNG -- SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM RÈN LUYỆN KĨ NĂNG LÀM BÀI NGHỊ LUẬN XÃ HỘI CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Người thực hiện Phạm Thanh Hà Chức vụ Giáo viên Đơn vị công tác Trường THPT Hà Trung SKKN thuộc môn Ngữ văn Người thực hiện Phạm Thanh Hà – THPT Hà Trung 0 THANH HÓA NĂM 2013 MỤC LỤC MỤC LỤC................................................................................................................1 A. ĐẶT VẤN ĐỀ......................................................................................................2 I. Lý do chọn đề tài....................................................................................................2 II. Mục đích nghiên cứu.............................................................................................2 III. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.......................................................................2 IV. Phương pháp nghiên cứu.....................................................................................2 B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ .....................................................................................3 PHẦN I CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN...........................................................3 I. Cơ sở lí luận của đề tài...........................................................................................3 II. Cơ sở thực tiễn của đề tài......................................................................................3 III. Thực trạng việc dạy và học phần NLXH trong bộ môn Ngữ văn ở trường THPT Hà Trung....................................................................................................................4 PHẦN II RÈN LUYỆN KĨ NĂNG LÀM VĂN NLXH CHO HỌC SINH THPT ..5 I. Nhận dạng đề..........................................................................................................5 II. Tìm hiểu đề............................................................................................................7 III. Lập ý.....................................................................................................................8 IV. Lập dàn ý............................................................................................................14 V. Huy động dẫn chứng............................................................................................15 VI. Kĩ năng diễn đạt..................................................................................................16 PHẦN III THỰC NGHIỆM VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP......................................17 I. Tiến hành thực nghiệm..........................................................................................17 II. Kết quả thực nghiệm............................................................................................17 III. Một số giải pháp.................................................................................................18 C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ..........................................................................20 I. Kết luận.................................................................................................................20 II. Kiến nghị.............................................................................................................20 TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................................................21 Người thực hiện Phạm Thanh Hà – THPT Hà Trung 1 A. ĐẶT VẤN ĐỀ I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI Một thời gian dài trước đây, môn làm văn trong nhà trường chỉ tập trung vào nghị luận văn học, coi trọng nghị luận văn học, khiến học sinh chỉ quẩn quanh với kiến thức sách vở, sự liên hệ với thực tế đời sống ít ỏi. Việc dạy và học văn phần nào đó trở nên phiến diện, máy móc, giáo điều. Vài năm trở lại đây chương trình dạy học và thi môn văn có nhiều đổi mới. Mảng văn nghị luận xã hội được đưa vào chương trình các cấp học từ THCS đến THPT. Đề văn nghị luận xã hội là một trong những tiêu chí đánh giá quan trọng trong các bài kiểm tra thường xuyên, định kì, thi tốt nghiệp THPT và đặc biệt là kì thi tuyển sinh cao đẳng, đại học. Sự thay đổi này đã đem lại không ít cơ hội cho việc rèn luyện năng lực tư duy và phát triển toàn diện cho học sinh. Tuy nhiên nó cũng đặt ra cho các em không ít thách thức. Thời gian rèn luyện về nghị luận xã hội ở trên lớp không nhiều, nhiều em kiến thức xã hội còn rất hời hợt, kĩ năng làm bài không thuần thục...tất cả những điều đó tạo nên khó khăn khá lớn cho học sinh trong các kì thi. Nhằm giúp các em có thêm kĩ năng làm tốt bài văn nghị luận xã hội đó là lí do để tôi chọn đề tài này. II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU Tôi tiến hành đề tài này với ba mục đích cơ bản sau Thứ nhất Giúp học sinh nắm được những phương pháp và kĩ năng cơ bản để làm tốt một bài văn nghị luận xã hội trong các kì thi. Thứ hai Thông qua quá trình rèn luyện kĩ năng viết bài nghị luận xã hội giúp học sinh nâng cao khả năng trình bày quan điểm của mình; cung cấp cho các em vốn tri thức phong phú về các vấn đề xã hội để các em nâng cao nhận thức và kĩ năng sống, sống tốt hơn, đẹp hơn, từng bước hoàn thiện nhân cách của mình. Thứ ba Đề tài này có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các giáo viên Ngữ văn khi dạy phần nghị luận xã hội. III. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu Nghị luận xã hội có mặt trong chương trình Ngữ văn từ bậc trung học cơ sở đến bậc trung học phổ thông, tuy nhiên trong phạm vi đề tài này chúng tôi chỉ tìm hiểu phương pháp làm bài văn nghị luận xã hội cho học sinh trung học phổ thông đặc biệt là học sinh lớp 12 chuẩn bị thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh vào Đại học, Cao đẳng. Phạm vi nghiên cứu Các dạng đề, các đề bài nghị luận xã hội được học trong chương trình THPT đặc biệt tập trung vào 2 dạng đề cơ bản nghị luận về một tư tưởng đạo lí và nghị luận về một hiện tượng đời sống. IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU - Để đạt được mục đích và thực hiện những nhiệm vụ mà đề tài đặt ra, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản sau - Phương pháp liệt kê. - Phương pháp thống kê phân loại. Người thực hiện Phạm Thanh Hà – THPT Hà Trung 2 B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ PHẦN I CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN I. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI Trong thời đại khoa học kĩ thuật phát triển với tốc độ chóng mặt như hiện nay thì giáo dục đóng vai trò vô cùng quan trọng. Mục tiêu giáo dục của tất cả các quốc gia là đào tạo con người phát triển toàn diện. Tổ chức khoa học giáo dục thế giới UNESCO cũng đã đề xướng mục đích học tập là “Học để biết, học để làm, học để chung sống và học để khẳng định mình”. Việc đưa mảng nghị luận xã hội vào chương trình Ngữ văn bậc trung học hoàn toàn phù hợp với xu hướng giáo dục trên. Nghị luận xã hội là phưong pháp nghị luận lấy đề tài từ các lĩnh vực xã hội, chính trị, đạo đức làm nội dung bàn bạc nhằm làm sáng tỏ cái đúng, sai, tốt, xấu của vấn đề được nêu ra. Từ đó đưa ra một cách hiểu thấu đáo về vấn đề nghị luận cũng như vận dụng nó vào đời sống và bản thân. Những đề tài và nội dung này thường là những vấn đề có ý nghĩa thiết thực trong cuộc sống, có tính giáo dục và tính thời sự cao. Đối với học sinh THPT, các bài văn nghị luận xã hội thường mang đến cho các em những suy nghĩ và nhận thức đúng đắn về cuộc sống; có ý nghĩa hướng đạo, đặc biệt là uốn nắn nhận thức cho các em về những vấn đề có tính hai mặt của đời sống xã hội đang tác động trực tiếp đến thế hệ trẻ. II. CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI - Về chương trình Từ năm học 2008 - 2009 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chính thức đưa vào đề thi môn văn kì thi tốt nghiệp THPT và thi tuyển sinh vào các trường Cao đẳng, Đại học một câu nghị luận xã hội, chiếm tỉ lệ 30% trong tổng số đề ra. Những vấn đề nghị luận xã hội được đưa ra cho học sinh bàn bạc từ đó đến nay đều rất phong phú, đa dạng; đề cập đến tất cả các phương diện của đời sống . Vừa có dạng đề về tư tưởng đạo lí lại vừa có dạng đề về các hiện tượng đời sống. Thế nhưng thời lượng chương trình dành cho việc giảng dạy và rèn luyện kĩ năng làm bài nghị luận xã hội trong phân phối chương trình THPT theo qui định của Bộ Giáo dục là quá ít ỏi. ở lớp 12 cả Ban cơ bản và Ban Khoa học Xã hội nhân văn đều chỉ có 2 tiết lí thuyết về cách làm bài nghị luận xã hội một cho dạng bài nghị luận về một tư tưởng đạo lí, một cho dạng bài nghị luận về một hiện tượng đời sống. Cả năm học 12 các em chỉ có hai bài viết rèn luyện nghị luận xã hội, còn lại thì tập trung vào nghị luận văn học. Thực tế đó khiến học sinh không có điều kiện để rèn luyện nghị luận xã hội một cách thường xuyên dẫn tới kết quả đạt được không cao. - Về học sinh Học sinh THPT đều ở độ tuổi mới lớn, chưa có điều kiện tiếp xúc nhiều với thực tế đời sống đa sắc, đa chiều, vốn kiến thức xã hội còn ít ỏi. Nhiều em cách nhìn nhận vấn đề còn ấu trĩ, thậm chí lệch lạc do đó để hiểu đúng, hiểu sâu bản chất và bàn luận thấu đáo một vấn đề xã hội là điều không đơn giản đối với các em. Người thực hiện Phạm Thanh Hà – THPT Hà Trung 3 III. THỰC TRẠNG VIỆC DẠY VÀ HỌC PHẦN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI TRONG BỘ MÔN NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG THPT HÀ TRUNG Hòa với thực tế chung của các trường THPT trong cả nước, trường THPT Hà Trung cũng có những thuận lợi và khó khăn nhất định - Về phía giáo viên Các giáo viên bộ môn Ngữ văn đã chú ý đến mảng nghị luận xã hội đặc biệt là ở chương trình lớp 12. Nhưng do thời lượng chương trình hạn chế nên không có nhiều điều kiện bổ sung kiến thức cũng như rèn luyện kĩ năng viết bài nghị luận xã hội cho học sinh. Với thời gian 2 tiết lí thuyết chỉ đủ để giáo viên giới thiệu khái niệm, kiểu bài, dạng đề và cách làm bài một cách đơn giản nhất. Qua một số bài kiểm tra định kì, mỗi bài một câu nghị luận xã hội chiếm khoảng 30% bài viết chỉ đủ để các em tiếp cận và làm quen với cách làm bài chứ chưa thể đạt đến độ thuần thục, nhuần nhuyễn được. - Về phía học sinh Số học sinh hiểu thấu đáo vấn đề, có kĩ năng làm bài nghị luận xã hội tốt không nhiều. Đa phần các em thường ngợp trước các vấn đề xã hội, hiểu lơ mơ, viết hời hợt. Không có những trăn trở sâu sắc. không có cái nhìn toàn diện, đa chiều. Đôi khi viết theo tính chất cảm hứng, không nắm vững qui trình làm bài. Gặp phải đề lắt léo hay vấn đề nghị luận ẩn sau câu chữ, hình ảnh ...là không làm được. - Về phía Nhà trường Nhà trường cũng đã có kế hoạch phụ đạo phù hợp nhưng chưa thể giảm hết khó khăn cho cả thầy và trò. Người thực hiện Phạm Thanh Hà – THPT Hà Trung 4 PHẦN II RÈN LUYỆN KĨ NĂNG LÀM VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI CHO HỌC SINH THPT I. NHẬN DẠNG ĐỀ Nghị luận xã hội là những bài văn mà người viết dùng lí lẽ, phán đoán, chứng cứ để bàn luận về một vấn đề chính trị, xã hội, đời sống. Đề tài của dạng bài này hết sức rộng mở, bao gồm tất cả những vấn đề về tư tưởng, đạo lí, lối sống, những hiện tượng tích cực, tiêu cực trong đời sống, vấn đề thiên nhiên, môi trường, vấn đề hội nhập, vấn đề giáo dục nhân cách....Nghĩa là ngoài những tác phẩm văn học lấy tác phẩm văn học trong nhà trường làm đối tượng thì tất cả các vấn đề khác được đưa ra bàn luận đều được xếp vào dạng nghị luận xã hội. Có thể qui về hai dạng đề cơ bản Nghị luận về một tư tưởng đạo lí và nghị luận về một hiện tượng đời sống. Dạng nghị luận về một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học xét cho cùng thì cũng phải qui về một trong hai dạng đề trên. Trên thực tế các đề nghị luận xã hội rất phong phú và đa dạng, sự phân chia dạng đề chỉ là tương đối. Nhiều khi giới hạn giữa hai dạng đề rất nhỏ nên học sinh khó xác định rạch ròi. Việc nhận dạng đề trước khi tìm hiểu đề rất quan trọng, giúp học sinh định hướng đúng cho bài làm, tránh sai lạc trong trong quá trình làm bài. 1. Dạng đề nghị luận về một tư tưởng đạo lí Nghị luận về một tư tưởng đạo lí là bàn về một vấn đề thuộc lĩnh vực tư tưởng đạo đức, lối sống, quan niệm của con người. Vấn đề tư tưởng đạo lí thường được nêu lên trong các ý kiến, nhận định của các bậc vĩ nhân, hay nhà thơ, nhà văn, hoặc được nêu ra ở tục ngữ, ca dao…. Ví dụ - Hãy viết một bài văn ngắn không quá 600 từ trình bày suy nghĩ của anh chị về ý kiến sau “Một người đã đánh mất niềm tin vào bản thân thì chắc chắn sẽ còn đánh mất thêm nhiều thứ quý giá khác nữa” Theo sách Dám thành công – Nhiều tác giả, NXB trẻ, 2008, tr90 Đề thi tuyển sinh đại học khối D năm 2009. - “Lí tưởng là ngọn đèn chỉ đường. Không có lí tưởng thì không có phương hướng kiên định, mà không có phương hướng thì không có cuộc sống” Lép Tônxtôi . Anh chị hãy nêu suy nghĩ về vai trò của lí tưởng nói chung và trình bày lí tưởng riêng của mình . - “Đời người cũng như một bài thơ, giá trị của nó không tùy thuộc vào số câu mà tùy thuộc vào nội dung” Seneca. Suy nghĩ của em về ý kiến trên. - “Có ba điều trong cuộc đời mỗi người nếu đi qua sẽ không lấy lại được Thời gian, lời nói và cơ hội” Lời nhắn nhủ này nhắc anh chị điều gì? - Suy nghĩ của anh chị về lời dạy của Chúa Jesus “Thiên đường ở chính trong ta. Địa ngục cũng do ta mà có” Người thực hiện Phạm Thanh Hà – THPT Hà Trung 5 - Suy nghĩ của anh chị về câu nói của Tuân Tử “Người khen ta mà khen phải là bạn của ta, người chê ta mà chê phải là thầy của ta, những kẻ tâng bốc, xu nịnh là thù của ta”. Học sinh có thể nhận ra dạng đề nghị luận về một tư tưởng đạo lí khi nhận thấy đề bài yêu cầu bàn luận về một nhận định, một câu tục ngữ, hay một câu danh ngôn. Nhận định, tư tưởng thường được trích dẫn nguyên văn và được đặt trong dấu ngoặc kép. 2. Dạng đề nghị luận về một hiện tượng đời sống Xung quanh chúng ta hằng ngày có biết bao hiện tượng xảy ra. Có hiện tượng tốt, có hiện tượng xấu. Tất cả những điều xảy ra trong cuộc sống ấy đều là hiện tượng đời sống. Nghị luận về một hiện tượng đời sống là cách sử dụng tổng hợp các thao tác lập luận để bàn về một sự việc, hiện tượng có ý nghĩa đối với đời sống xã hội, đáng khen, đáng chê, hay đáng suy nghĩ; có tính bức xúc, cập nhật nóng hổi diễn ra trong đời sống hàng ngày, được xã hội quan tâm như an toàn giao thông, gian lận trong thi cử, bạo lực học đường, bệnh vô cảm, bệnh thành tích, bệnh đạo đức giả, hiện tượng mê muội thần tượng....từ đó làm cho người đọc hiểu rõ, hiểu đúng, hiểu sâu, để đồng tình hoặc bác bỏ trước những hiện tượng đó. Các đề thường gặp là - Hãy viết một bài văn bàn về vấn đề Tuổi trẻ học đường suy nghĩ và hành động để góp phần giảm thiểu tai nạn giao thông hiện nay. - Em có suy nghĩ gì về vấn đề bạo lực học đường đang diễn ra khá nhiều trong trường học hiện nay? - Hãy viết một bài văn với tiêu đề “ Nước - nguồn tài nguyên quý vô giá”. - Hãy viết một bài văn bàn về vấn đề ô nhiễm môi trường . - Suy nghĩ của anh chị về ý kiến “Ngưỡng mộ thần tượng là một nét đẹp văn hóa nhưng mê muội thần tượng là một thảm họa” - Anh chị có suy nghĩ gì về căn bệnh vô cảm trong xã hội ta hiện nay? - “Đạo đức giả là một căn bệnh chết người luôn nấp sau bộ mặt hào nhoáng”. Suy nghĩ của em về ý kiến trên. - Anh chị hãy viết một bài văn ngắn khoảng 400 từ bày tỏ suy nghĩ của mình về hành động dũng cảm cứu người của học sinh Nguyễn Văn Nam từ thông tin sau “Chiều ngày 30 - 4 – 2013, bên bờ sông Lam , đoạn chảy qua xã Trung Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Văn Nam học sinh lớp 12T7, trường THPT Đô Lương I nghe tiếng kêu cứu có người đuối nước dưới sông, em liền chạy đến. Thấy một nhóm học sinh đang chới với dưới nước, Nam đã nhảy xuống, lần lượt cứu được ba học sinh lớp 9 và một học sinh lớp 6. Khi đẩy được em thứ năm vào bờ thì Nam đã kiệt sức và bị dòng nước cuốn trôi. Theo Khánh Hoan, Thanhnienonline, ngày 6 - 5 - 2013 Học sinh nhận ra dạng đề nghị luận về một hiện tượng đời sống nhờ vào đối tượng được đề cập đến trong đề bài và yêu cầu của đề bài. Đối tượng được đề cập bây giờ không phải là một câu nói nào đó mà là một vấn đề đang xảy ra trong cuộc Người thực hiện Phạm Thanh Hà – THPT Hà Trung 6 sống hiện tại. Thông thường trên dạng đề này có các từ ngữ như hiện tượng, vấn đề, vấn nạn…. nhờ các từ ngữ nói trên, học sinh có thể xác định được dạng đề ngay tức thì. Tuy nhiên với một số đề thì vấn đề lại không hoàn toàn đơn giản như vậy. Có những đề có sự giao thoa giữa nghị luận về một tư tưởng đạo lí với nghị luận về một hiện tượng đời sống. Ví dụ Nhà hoạt động xã hội Martin Luther King từng nói “Trong thế giới này, chúng ta không chỉ xót xa vì những hành động và lời nói của người xấu mà còn cả vì sự im lặng đáng sợ của người tốt”. Anh chị suy nghĩ gì về ý kiến trên? Đề bài trên vừa bàn về tư tưởng đạo lí, vừa bàn về hiện tượng đời sống. Với dạng đề bài này, học sinh cần kết hợp yêu cầu bài làm của cả hai dạng đề để giải quyết. Trước hết các em cần xác định phần chung của hai dạng đề cần giải quyết, đó là - Giới thiệu, tư tưởng đạo lí hoặc hiện tượng cần giải quyết. - Bình luận về tư tưởng đạo lí hay hiện tượng đời sống. Chỉ ra mặt đúng, mặt tích cực, hay mặt sai, mặt tiêu cực của vấn đề cần bàn luận. - Rút ra bài học kinh nghiệm cho bản thân. Mỗi dạng đề có các yêu cầu riêng của nó. Dạng đề nghị luận về một tư tưởng đạo lí cần thiết phải giải thích ý nghĩa của tư tưởng đạo lí. Còn dạng đề nghị luận về một hiện tượng đời sống cần thiết phải phân tích nguyên nhân và chỉ ra hậu quả của hiện tượng cần bàn luận. Đối với các đề bài có sự kết hợp cả hai dạng thì học sinh cần phải xác định luận điểm nhiều hơn, bao gồm cả phần chung và phần riêng đã nói trên. Như vậy, nhận dạng đề là khâu quan trọng đầu tiên giúp học sinh xác định được hướng đi của bài làm, nhằm tránh việc lạc đề. Có thể thấy dạng đề được thể hiện khá rõ qua các dấu hiệu ngôn ngữ có trong đề bài. Đề nghị luận về một tư tưởng đạo lí thường yêu cầu bàn luận về một nhận định, một câu tục ngữ, một câu danh ngôn. Nhận định, tư tưởng thường được trích dẫn nguyên văn và được đặt trong dấu ngoặc kép. Đề nghị luận về một hiện tượng đời sống thường đề cập đến đối tượng cụ thể là các hiện tượng, vấn đề, vấn nạn....học sinh có thể nhận biết dễ dàng nếu tập trung chú ý. II. TÌM HIỂU ĐỀ Sau khi nhận dạng đề, học sinh cần tiến hành khâu tìm hiểu đề. Đây không phải là công đoạn riêng của văn nghị luận xã hội mà bất cứ bài làm văn nào cũng cần thiết phải được chú ý. Tìm hiểu đề là tìm hiểu 3 yêu cầu của đề, bao gồm - Yêu cầu về thể loại. - Yêu cầu về nội dung. - Yêu cầu về dẫn chứng. Về thể loại gần như cả 2 dạng đề nghị luận về một tư tưởng đạo lí hay nghị luận về một hiện tượng đời sống đều là bình luận. Về dẫn chứng, người viết phải biết huy động mọi loại kiến thức trong nhà trường cũng như trong cuộc sống đặc biệt là Người thực hiện Phạm Thanh Hà – THPT Hà Trung 7 những hiểu biết thực tế để làm cho bài viết vừa sâu sắc vừa sống động, đầy sức thuyết phục. Yêu cầu quan trọng nhất là về nội dung đòi hỏi học sinh phải xác định đúng trọng tâm của đề thì bài viết mới đúng hướng. Ví dụ 1 Có ý kiến cho rằng “Nếu cuộc đời là một bộ phim , tôi muốn là vai phụ xuất sắc nhất”. Suy nghĩ của anh chị về ý kiến trên. Luận đề của đề bài này là Bàn về vai trò của một người bình thường trong xã hội nhưng là người bình thường xuất sắc. Ví dụ 2 Hãy viết bài văn với tiêu đề “Góc sân và khoảng trời”. Luận đề của đề bài này là Bàn về mối quan hệ giữa những cái nhỏ bé, gần gũi và những cái lớn lao, to tát; giữa thực tại và ước mơ, khát vọng. Ví dụ 3 Có ý kiến cho rằng “ Một người chưa biết đến những lời nói dối đẹp thì cũng chưa biết đến thế giới chân thực” . Suy nghĩ của em về ý kiến trên. Luận đề của đề bài này là Bàn về ý nghĩa của những lời nói dối đẹp. Ví dụ 4 Suy nghĩ của anh chị về câu nói của Âu Dương Tử “Trăm sông học bể đến được bể. Gò đống học núi không đến được núi là bởi một đằng đi, một đằng đứng”. Luận đề của đề bài này là Tầm quan trọng của cách học và cũng là cách sống của con người trong cuộc đời. Ví dụ 5 Có ý kiến cho rằng “ Một người khi đã đánh mất niềm tin vào bản thân thì sẽ đánh mất thêm nhiều thứ quí giá khác”. Suy nghĩ của anh chị về ý kiến trên. Luận đề của đề bài này là Bàn về vai trò, tầm quan trọng của lòng tự tin. Ví dụ 6 Suy nghĩ của anh chị về lời dạy của Chúa Jesus “Thiên đường ở chính trong ta. Địa ngục cũng do ta mà có”. Luận đề của đề bài này là Cuộc sống của chúng ta trở nề đẹp đẽ hay chán ngắt là do chính chúng ta quyết định. Từ một số ví dụ trên có thể thấy việc tìm hiểu đề có ý nghĩa như thế nào. Nó xác định đúng hướng, đúng trọng tâm yêu cầu của đề. Những học sinh vội vàng, hấp tấp, bỏ qua công đoạn tìm hiểu đề, gặp những đề như thế này chắc chắn sẽ làm lạc đề. Phương pháp chung cho việc tìm hiểu đề là Đọc thật kĩ đề ra, tiếp theo tìm từ hoặc cụm từ then chốt có chứa ẩn ý được gọi là từ khóa hay cụm từ khóa . Sau đó giải mã các từ khóa để tìm ra yêu cầu trọng tâm của đề là gì. Ở ví dụ 1 cụm từ then chốt là “vai phụ xuất sắc nhất”; nếu xác định từ then chốt là cuộc đời hay bộ phim thì sẽ lạc đề ngay. Ở ví dụ 2 từ khóa là “góc sân” và “khoảng trời”; ví dụ 3 cụm từ khóa là “lời nói dối đẹp” và “thế giới chân thực”; ví dụ 4 từ khóa là “đi” và “đứng”; ví dụ 5 cụm từ khóa là “niềm tin vào bản thân”; ví dụ 6 từ khóa là “thiên đường” và “địa ngục”..... III. LẬP Ý Đa số học sinh hiện nay thường mắc phải một lỗi cơ bản đáng tiếc là không thiết lập hệ thống ý trước khi viết bài. Các em thường nghĩ đến đâu, viết đến đấy nên bài viết thường lan man, ý lộn xộn, thiếu ý hoặc các ý trình bày trùng lặp. Vấn đề được Người thực hiện Phạm Thanh Hà – THPT Hà Trung 8 hiểu lơ mơ lại viết theo kiểu ngẫu hứng nên bài làm thường không sâu, không đạt được yêu cầu của đề ra. Ở một bài văn nghị luận xã hội , luận điểm chính đã có sẵn ở cấu trúc bài làm. Học sinh chỉ cần dựa vào trình tự các bước để thiết lập luận điểm. Sách giáo khoa ngữ văn 12 đã đưa ra phần ghi nhớ về cách làm bài nghị luận về một tư tưởng đạo lí và nghị luận về một hiện tượng đời sống như sau - “Bài nghị luận về một tư tưởng đạo lí thường có một số nội dung sau + Giới thiệu, giải thích tư tưởng, đạo lí cần bàn luận; + Phân tích những mặt đúng, bác bỏ những biểu hiện sai lệch có liên quan đến vấn đề bàn luận; + Nêu ý nghĩa, rút ra bài học nhận thức và hành động về tư tưởng đạo lí. + Diễn đạt cần chuẩn xác, mạch lạc; có thể sử dụng một số phép tu từ và yếu tố biểu cảm nhưng phải phù hợp và có chừng mực.” Sách giáo khoa ngữ văn 12 tập 1, NXB giáo dục, tr 21 - “Bài nghị luận về một hiện tượng đời sống thường có các nội dung + Nêu rõ hiện tượng + Phân tích các mặt đúng, sai, lợi, hại. + Chỉ ra nguyên nhân và bày tỏ thái độ, ý kiến của người viết về hiện tượng xã hội đó. + Diễn đạt cần chuẩn xác, mạch lạc; có thể sử dụng một số phép tu từ và yếu tố biểu cảm, nhất là phần nêu cảm nghĩ riêng” Sách giáo khoa ngữ văn 12 tập 1, NXB giáo dục, tr 67 Sau đây tôi xin triển khai cụ thể hơn về cách thiết lập luận điểm trong một bài nghị luận xã hội các luận điểm trong phần thân bài. 1. Đối với đề bài nghị luận về một tư tưởng đaọ lí - Luận điểm 1 Giải thích tư tưởng đạo lí cần bàn luận. Làm rõ vấn đề được dẫn trong đề. Nếu vấn đề thể hiện dưới dạng trích dẫn một câu tục ngữ, một câu danh ngôn hay một nhận định, người viết cần lần lượt giải thích, làm rõ nghĩa của vấn đề theo cách đi từ khái niệm, ý nghĩa của các từ ngữ, hình ảnh đến các vế câu và cuối cùng là toàn bộ ý tưởng được trích dẫn. Khi vấn đề được diễn đạt theo kiểu ẩn dụ, bóng bẩy thì phải giải thích cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng của từ ngữ. + Luận cứ Nghĩa đen nghĩa tường minh Nghĩa bóng nghĩa hàm ẩn Nghĩa cả câu - Luận điểm 2 Bàn luận về tư tưởng đạo lí được đề cập đến trong đề bài. + Luận cứ 1 Các biểu hiện của vấn đề trong thực tế đời sống. + Luận cứ 2 Ý nghĩa, tác dụng của vấn đề đối với đời sống xã hội Mặt tích cực, tiêu cực, đúng hay chưa đúng của tư tưởng đạo lí, khẳng định mặt đúng, tích cực, bác bỏ những biểu hiện sai lệch. Người thực hiện Phạm Thanh Hà – THPT Hà Trung 9 + Luận cứ 3 Bàn luận mở rộng, nâng cao vấn đề Đưa ra phản đề làm đối sánh nhằm khẳng định luận đề, mở rộng nâng cao vấn đề lên mức độ khái quát thành quan niệm sống, triết lí sống. - Luận điểm 3 Bài học sâu sắc cho bản thân + Luận cứ 1 Bài học về nhận thức + Luận cứ 2 Bài học về hành động. Yêu cầu với các bước tiến hành một bài nghị luận về một tư tưởng đạo lí là giải thích vấn đề thật rõ ràng, nêu biểu hiện của vấn đề thật cụ thể, bàn luận thật sâu và rút ra bài học thật thấm thía, sâu sắc. Ví dụ1 Có ý kiến cho rằng “Bàn tay tặng hoa hồng luôn phảng phất hương thơm”. Suy nghĩ của anh chị về ý kiến trên. - Luận điểm 1 Giải thích ý kiến + Luận cứ 1 Ý kiến trên chứa đựng một hàm ý sâu sắc ẩn dưới những hình ảnh có ý nghĩa biểu trưng. “Bàn tay” là hình ảnh hoán dụ để chỉ “người tặng hoa hồng” tức là người có lòng nhân ái, vị tha, luôn biết đồng cảm, sẻ chia, biết sống vì người khác. “Tặng” là thái độ, là hành động tự nguyện, vui vẻ, chân thành trao cho người khác một thứ gì đó của mình. “Hoa hồng” là hình ảnh biểu trưng cho vẻ đẹp của tình yêu thương chân thành, của lòng nhân ái, của tất cả những gì trong sáng, cao đẹp. Còn hình ảnh “phảng phất hương thơm” là niềm hạnh phúc của người biết trao tặng. + Luận cứ 2 Như vậy, ý nghĩa của cả câu nói trên là Biết đồng cảm, sẻ chia, biết trao tặng tình yêu thương chân thành, biết sống vì người khác thì sẽ luôn cảm thấy hạnh phúc. Đó là một cách để chúng ta làm đẹp tâm hồn mình và góp phần làm đẹp cho cuộc sống. - Luận điểm 2 Bàn luận về vấn đề + Luận cứ 1 Cuộc sống sẽ ra sao nếu thiếu đi sự ấm áp của những tấm lòng? Mỗi con người sẽ như thế nào nếu tâm hồn ngày càng cằn cỗi? Nếu không biết tự làm giàu cho tâm hồn mình thì con người sẽ chẳng khác gì những cỗ máy. Sự thơm thảo của những tấm lòng biết yêu thương, đồng cảm, sẻ chia chính là biểu hiện sinh động nhất, đẹp đẽ nhất, ấm áp nhất của tâm hồn con người và cũng là của cuộc sống. + Luận cứ 2 Xung quanh chúng ta hàng ngày, hàng giờ có biết bao nhiêu hành động, việc làm của các cá nhân, tập thể luôn sẵn sàng cưu mang, đùm bọc, sẻ chia với người khác. Cái mà họ cho đi không phải lúc nào cũng mang giá trị vật chất mà trước hết là ý nghĩa tinh thần. Nó là biểu hiện của đạo lí sống cao đẹp, của truyền thống nhân ái có từ xa xưa của dân tộc ta. +Luận cứ 3 Bên cạnh những người sẵn lòng trao cho người khác tất cả những gì tốt đẹp mình có thì vẫn còn không ít những kẻ chỉ biết sống cho riêng mình, ích kỉ, hẹp hòi, bon chen, vụ lợi, không dám rớt cho ai thứ gì hoặc chỉ biết nhận mà không có trao. Nếu bất đắc dĩ phải trao thì miễn cưỡng hoặc vì mục đích vụ lợi nào đó... Tất cả các cách sống trên sẽ không bao giờ có được niềm vui, niềm hạnh phúc đích Người thực hiện Phạm Thanh Hà – THPT Hà Trung 10 thực của người được cho, không bao giờ cảm nhận được vẻ đẹp của những tấm lòng và tất yếu sẽ không thể thấy được giá trị đích thực của cuộc sống từ sự vị tha. + Luận cứ 4 Yêu thương người khác bằng cả trái tim thì sẽ được đáp lại bằng tình cảm chân thành. Biết cho đi cũng sẽ được nhận lại. Đó là phần thưởng xứng đáng cho những người có cách sống đẹp. + Luận cứ 5 Được ban tặng là niềm hạnh phúc nhưng biết ban tặng cho người khác còn hạnh phúc hơn. Điều quan trọng không phải là tặng cái gì mà là tặng như thế nào. Món quà được trao gửi, ban tặng sẽ có ý nghĩa hơn gấp bội khi nó được trao đi từ những “tấm lòng”. - Luận điểm 3 Bài học nhận thức và hành động + Luận cứ 1 Hiểu rõ ý nghĩa sâu sắc của ý kiến trên, liên hệ với bản thân, nhìn nhận đánh giá lại chính mình. + Luận cứ 2 Cần tu dưỡng, rèn luyện, trau dồi nhân cách, bồi dưỡng tâm hồn để sống đẹp hơn, hòa đồng hơn với mọi người xung quanh. Biết đồng cảm, sẻ chia để làm giàu cho tâm hồn mình và góp phần làm đẹp cho cuộc sống. Ví dụ 2 Suy nghĩ của anh chị về câu nói của Nguyễn Bá Học “Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông”. - Luận điểm 1 Giải thích câu nói + Luận cứ 1 Nghĩa tường minh Trước đây, giao thông chưa thuận tiện, muốn đến nơi nào đó phải trèo đèo lội suối rất vất vả. Những cuộc hành trình dài thường khiến người ta mệt mỏi, sợ hãi, không dám đến đích cần tới. + Luận cứ 2 Nghĩa hàm ẩn Đường đi còn có nghĩa là đường đời, cuộc sống con người; Sông, núi là hình ảnh ẩn dụ cho những khó khăn thử thách. + Luận cứ 3 Ý cả câu Mọi khó khăn thử thách đều có thể vượt qua nếu con người có ý chí và nghị lực. - Luận điểm 2 Bàn luận về vấn đề. + Luận cứ 1 Cuộc sống luôn chứa đựng muôn vàn khó khăn, trắc trở. Vượt qua những khó khăn trắc trở đó, con người sẽ thành công. Dẫn chứng Mạc Đĩnh Chi phải học dưới ánh đèn đom đóm mà đỗ đạt thành công. Thầy giáo Nguyễn Ngọc Kí viết bằng đôi chân mà trưởng thành. Stephen Hawking chỉ đi lại bằng xe lăn vì bại liệt nhưng đã trở thành nhà vật lý học kiệt xuất, là người đầu tiên nêu lên khái niệm “hố đen vũ trụ” có ý nghĩa lớn đối với nhân loại. Nick Vujicick, chàng trai khuyết tật bẩm sinh, không có cả tay và chân nhưng anh không hề nản chí, với sự nỗ lực vượt bậc, anh đã vượt lên số phận, vượt lên chính mình để trở thành một diễn viên xuất sắc, một nhà diến thuyết nổi tiếng, anh đã truyền lửa sống cho biết bao người đặc biệt là thế hệ thanh niên. + Luận cứ 2 Những khó khăn thử thách là cơ hội để thử sức, rèn luyện bản thân mình, là cơ hội để nhận diện năng lực mình, và là cơ hội để có những bài học. Người thực hiện Phạm Thanh Hà – THPT Hà Trung 11 Dẫn chứng Nhà diễn thuyết nổi tiếng thời cổ đại Hi Lạp Demosthenes thưở nhỏ bị nói lắp. Khi đứng trên sân khấu diễn giảng, giọng nói ông không rõ ràng, phát âm không chuẩn, vẫn thường bị mọi người chế nhạo. Nhưng ông không hề chán nản. Để khắc phục khó khăn này, ngày ngày ông đều ngậm một viên đá trong miệng, rồi đứng trước biển tập đọc. Sau một thời gian kiên trì tập luyện, ông đã chứng minh được năng lực của mình, và trở thành nhà diễn thuyết nổi tiếng nhất Hi Lạp. Nhà bác học Marie Curie đã từng bị bệnh ung thư máu, nhưng bà đã không chịu cúi đầu bỏ cuộc, không cam tâm để mình trở thành người vô dụng, và cuối cùng bà đã hai lần được nhận giải thưởng Nobel về vật lí và hóa học. Từ hai luận cứ trên, khẳng định câu nói của Nguyễn Bá Học là hoàn toàn đúng. Nếu con người kiên trì nghị lực thì “không có việc gì khó” cả. - Luận cứ 3 Phê phán một bộ phận trong xã hội thiếu ý chí nghị lực trong cuộc sống. Gặp chuyện khó khăn là chán nản, sinh ra bi quan, hoặc sa vào con đường tội lỗi. - Luận điểm 3 Rút ra bài học trong cuộc sống + Luận cứ 1 Con người cần ý thức được vai trò, tầm quan trọng của tinh thần vượt khó trong cuộc sống. + Luận cứ 2 Liên tưởng bài thơ của Bác Hồ “Không có việc gì khó; Chỉ sợ lòng không bền; Đào núi và lấp biển; Quyết chí ắt làm nên.” Mỗi con người cần mài sắc ý chí, nghị lực trên mọi bước đường, mọi hành trình. 2. Đối với đề bài nghị luận về một hiện tượng đời sống - Luận điểm 1 Giới thiệu hiện tượng đời sống cần bàn luận - Luận điểm 2 Nêu thực trạng của hiện tượng, phân tích các mặt đúng, sai, lợi, hại. - Luận điểm 3 Tìm hiểu nguyên nhân của hiện tượng, bày tỏ thái độ, ý kiến của người viết về hiện tượng xã hội đó. - Luận điểm 4 Tìm hiểu hậu quả của hiện tượng. - Luận điểm 5 Nêu giải pháp. Ví dụ 1 Suy nghĩ của em về nạn bạo hành gia đình đang diễn ra khá nhiều trong xã hội hiện nay - Luận điểm 1 Giải thích hiện tượng Nạn bạo hành gia đình là hiện tượng các thành viên trong gia đình có hành vi dùng bạo lực để xâm phạm đến thân thể hoặc tinh thần của các thanh viên khác như chồng hành hạ vợ con, bố mẹ hành hạ con cái…biểu hiện và mức độ của nạn bạo hành gia đình có khác nhau, có thể là đánh đập, hành hạ, chửi bới, mạt sát cũng có thể là giam hãm, cấm đoán…. - Luận điểm 2 Thực trạng của hiện tượng Nạn bạo hành gia đình đang diễn ra khá phổ biến trong xã hội hiện nay, nó trở thành một vấn đề nhức nhối, một vấn nạn của xã hội. Dẫn chứng Gần đây các phương tiện thông tin đại chúng đã không ít lần đưa tin về các vụ bạo hành gia đình gây hậu quả tồi tệ như vợ bị chồng đánh thành tật, con bị Người thực hiện Phạm Thanh Hà – THPT Hà Trung 12 bố mẹ hành hạ gần chết, lại có những trường hợp con cái không được đáp ứng, thỏa mãn những đòi hỏi đã có những hành vi thô bạo với bố mẹ…có những người đàn bà trở nên tâm thần điên dại, có những đứa trẻ phải mang tật suốt đời, có những ông bố, bà mẹ phải thắt cổ tự tử vì quá tuyệt vọng với những đứa con hư hỏng. Điều đó quả thực rất đau lòng, xót xa và được dư luận xã hội rất quan tâm. - Luận điểm 3 Nguyên nhân của hiện tượng Nguyên nhân của hiện tượng bạo hành gia đình có rất nhiều nhưng có thể kể ra những nguyên nhân cơ bản sau Do cuộc sống quá khó khăn đến mức quẫn bách, bức bối sinh ra đánh chửi nhau trong gia đình. Do một số người nghiện ngập không làm chủ được hành vi. Do bản tính hung ác của một số người, khi không vừa ý thì sẵn sàng dùng bạo lực hành hạ cả người thân. Do ghen tuông mù quáng. Do một số người mang tư tưởng phong kiến nặng nề, cổ hủ, đó là những người đàn ông gia trưởng, độc đoán, tự cho mình cái quyền được hành hạ vợ con. ……….. - Luận điểm 4 Tìm hiểu hậu quả của hiện tượng, bày tỏ thái độ, ý kiến của người viết về hiện tượng đó + Luận cứ 1 Cho dù bắt nguồn từ nguyên nhân nào thì bạo hành gia đình cũng là yếu tố đầu tiên dẫn tới sự rạn nứt, sứt mẻ thậm chí là đổ vỡ ở nhiều gia đình. + Luận cứ 2 Xét cho đến cùng thì bạo hành gia đình cũng là sự vi phạm nhân quyền, vi phạm đạo đức xã hội, cao hơn cả là vi pháp luật. Bởi nó chà đạp lên quyền sống và nhân phẩm, chà đạp lên quyền bình đẳng của con người; biểu hiện sự thiếu tôn trọng lẫn nhau, thiếu tình thương và lòng nhân ái của các thành viên trong gia đình. - Luận điểm 5 Giải pháp và cách khắc phục + Cần tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức về vấn đề bình đẳng, bình quyền trong gia đình; bài trừ thói gia trưởng. + Bản thân mỗi người phải tự có ý thức quí trọng gia đình, có tình yêu thương chân thành, luôn nỗ lực cố gắng để giữ gìn hạnh phúc gia đình. Phải thực sự xem gia đình là tổ ấm, là điểm tựa, niềm tin, là tình yêu và hạnh phúc đích thực. Đây là yếu tố căn bản có tính chất quyết định việc loại bỏ nạn bạo hành gia đình. + Cần ngăn chặn nạn bạo hành gia đình bằng cách kêu gọi dư luận xã hội lên án, bài trừ đối với tệ nạn này. + Khi cần thiết phải có sự can thiệp của pháp luật. Hiện nay Bộ luật của nước CHXHCN Việt Nam đã có một số điều luật để bảo vệ cho quyền con người, ngăn chặn nạn bạo hành gia đình như Luật hôn nhân và gia đình, Luật bảo vệ bà mẹ, trẻ em…. Người thực hiện Phạm Thanh Hà – THPT Hà Trung 13 Ví dụ 2 Hãy trình bày suy nghĩ của anh/chị về “bệnh vô cảm” trong xã hội hiện nay. - Luận điểm 1 Giải thích bệnh vô cảm là gì? Hiện tượng mà quan hệ giữa người với người trở nên lạnh lùng, thiếu quan tâm lẫn nhau, thiếu trách nhiệm với nhau trong cuộc sống. - Luận điểm 2 Nêu thực trạng về bệnh vô cảm +Luận cứ 1 Biểu hiện Thiếu sự đồng cảm, chia sẻ với người khác, nhất là với những người gặp khó khăn hơn mình. Dẫn chứng Đi đường gặp người hoạn nạn thì làm ngơ. Đi xe bus không nhường ghế cho người già, trẻ em, phụ nữ mang thai. + Luận cứ 2 Đối tượng vô cảm người với người trong đời sống xã hội như bác sĩ vô cảm với bệnh nhân, thầy cô giáo với học sinh, cha mẹ với con cái… Thế hệ trẻ ngày nay rất nhiều người thơ ơ, vô cảm. - Luận điểm 3 Nêu nguyên nhân + Luận cứ 1 Về khách quan Xã hội phát triển trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt đã khiến con người dễ quan tâm đến quyền lợi của bản thân mình một cách thái quá. + Luận cứ 2 Về chủ quan Thói ích kĩ có sẵn trong mỗi con người. Một bộ phận được xã hội trao quyền lực nhưng không ý thức đầy đủ trách nhiệm đối với xã hội, đã tỏ ra hống hách, chuyên quyền. Cá nhân, nhà trường, xã hội chưa thường xuyên giáo dục tuyên truyền kịp thời một cách hài hòa giữa trí, đức và mĩ. - Luận điểm 4 Nêu hậu quả + Xã hội thiếu tình người trong đời sống cộng đồng. + Ảnh hưởng đến tương lai của những con người đang trong quá trình hoàn thiện nhân cách, hoàn thiện đời sống tâm lí. + Đời sống tâm hồn con người trở nên nghèo nàn. + Xã hội nhức nhối vì những bất công vô lí. - Luận điểm 5 Thái độ và đề xuất giải pháp + Lên án nghiêm khắc trước những suy nghĩ và hành động vô cảm của con người. + Tích cực tham gia ngăn chặn và tuyên truyền giáo dục mọi người về một lối sống đẹp. + Mỗi người cần tự rèn luyện để có lẽ sống đẹp, cao cả, nhân ái, vị tha. + Cần tham gia những phong trào thanh niên với mục đích giúp đỡ, quan tâm đến những số phận bất hạnh. Cần nhấn mạnh cho học sinh nhớ rằng Mỗi luận điểm nên được viết thành một đoạn văn riêng biệt, để người đọc nhận thấy bài làm có luận điểm rõ ràng, mạch lạc và học sinh cũng tránh được lối viết lan man, nhập nhằng, không rõ ý. IV. LẬP DÀN Ý Người thực hiện Phạm Thanh Hà – THPT Hà Trung 14 Từ yêu cầu chung và một số ví dụ nêu trên, chúng tôi đề nghị mẫu dàn bài cho bài văn nghị luận xã hội như sau 1. Đối với đề bài nghị luận về một tư tưởng đạo lí - Mở bài Dẫn dắt và giới thiệu khái quát nhận định, đánh giá có nêu ra ở đề bài. Sau đó định hướng vấn đề nghị luận. Lưu ý Học sinh phải trích dẫn nhận định và nêu luận đề của đề bài trong phần mở bài này. - Thân bài + Giải thích Làm rõ nội dung vấn đề tư tưởng đạo lí được dẫn trong đề. + Các biểu hiện của vấn đề trong thực tế đời sống. + Nhận định, đánh giá vấn đề tư tưởng, đạo lí trong bối cảnh của cuộc sống hiện tại. + Ý nghĩa, tác dụng của vấn đề đối với đời sống xã hội Mặt tích cực, tiêu cực, đúng hay chưa đúng của tư tưởng đạo lí, khẳng định mặt đúng, tích cực, bác bỏ những biểu hiện sai lệch. + Bàn luận mở rộng, nâng cao vấn đề Đưa ra phản đề làm đối sánh nhằm khẳng định luận đề, mở rộng nâng cao vấn đề lên mức độ khái quát thành quan niệm sống, triết lí sống. - Kết bài Kết luận, tổng kết, nêu bài học sâu sắc cho bản thân về nhận thức, về hành động. Lưu ý Bài làm ở dạng này cần lựa chọn góc độ riêng để giải thích, đánh giá và đưa ra ý kiến riêng của mình. Có thể chọn dẫn chứng từ 3 nguồn thực tế, sách vở và giả thiết. Tuy nhiên không nên chọn nhiều dẫn chứng văn học, vì sẽ dễ sa vào nghị luận văn học. 2. Đối với đề bài nghị luận về một hiện tượng đời sống - Mở bài Giới thiệu sự việc hiện tượng đời sống có vấn đề, cần bàn luận. - Thân bài + Nêu thực trạng của hiện tượng, phân tích các mặt đúng, sai, lợi, hại. + Tìm hiểu nguyên nhân, hậu quả của hiện tượng. + Bày tỏ thái độ, ý kiến của người viết về hiện tượng xã hội đó. + Đề xuất các giải pháp cụ thể đối với hiện tượng. - Kết bài Kết luận, khẳng định những vấn đề đã nêu trong thân bài. Lưu ý Bài làm ở dạng này cần lựa chọn góc độ riêng để phân tích, nhận định, đưa ra ý kiến và sự cảm nhận riêng của người viết. V. HUY ĐỘNG DẪN CHỨNG Bài làm thiếu dẫn chứng cụ thể cũng là một thiếu sót thường xuyên xảy ra trong các bài làm văn nghị luận xã hội của các em học sinh. Để chứng minh một cách thuyết phục cho các luận điểm của một bài văn nghị luận xã hội, người viết phải sử dụng các dẫn chứng cụ thể, tiêu biểu về những người thật, việc thật. Đây là một công việc vô cùng khó khăn đối với học sinh, bởi vì vốn hiểu biết về thực tế xã hội Người thực hiện Phạm Thanh Hà – THPT Hà Trung 15 của các em còn quá ít. Để có thể có những hiểu biết nhất định về thời sự, về các vấn đề chính trị xã hội nóng bỏng của đất nước, đặc biệt là các vấn đề đang được đưa ra bàn luận, được dư luận xã hội quan tâm, từ đó tích lũy thành những dẫn chứng cụ thể để đưa vào bài làm của mình, học sinh cần tích lũy từ nhiều kênh thông tin khác nhau như sách vở, báo chí, truyền hình, internet, đời sống thực tế.… như thông tin về các vụ tai nạn giao thông, thống kê số người tử vong vì tai nạn giao thông trong một năm, thông tin về tình hình biến đổi khí hậu, về nạn gian lận thi cử trong các kì thi tốt nghiệp THPT và Đại học, Cao đẳng, thông tin về sự kiện chàng trai Nick Vujicick đến Việt Nam…. Ví dụ “Tháng 5-2013, Nick Vujicick chàng trai diệu kì đã đến Việt Nam. Anh sinh ra ở Austrailia, hiện sống tại California Mĩ. Từ khi ra đời anh đã mắc hội chứng rối loạn gen hiếm gặp, gây ra sự thiếu hụt chân tay. Chàng trai không chân, không tay đã gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống. Nhưng với ý chí và nghị lực phi thường, với lòng lạc quan vô bờ bến, anh đã vươn lên, tự luyện tập để có thể vượt qua tật nguyền, làm được mọi việc mà những người bình thường vẫn làm, thậm chí là những việc người bình thường khó làm được. Nick Vujicick đã là tác giả của hai cuốn tự truyện nổi tiếng “Cuộc sống không giới hạn” và “Đừng bao giờ từ bỏ khát vọng”; anh từng là diễn viên điện ảnh xuất sắc, là nhà diễn thuyết tài năng với hơn 1600 bài nói chuyện ở 24 quốc gia. Một lần nữa Nick Vujicick đã truyền lửa sống cho những người khuyết tật và những bạn trẻ ở Việt Nam”. Theo báo Dân trí ngày 28-5-2013. Trong quá trình đọc sách báo, nghe tin tức trên các phương tiện thông tin đại chúng, học sinh cần ghi lại thông tin về những nhân vật tiêu biểu, những sự kiện, những con số chính xác về một sự việc nào đó để có thể huy động làm dẫn chứng cho bài viết của mình. Dĩ nhiên là các tư liệu về đời sống thực tế phải được các em tích lũy dần dần trong cuộc sống của mình. Điều đặc biệt chú ý là học sinh phải nhớ được tên cụ thể của con người hay hiện tượng đưa ra làm dẫn chứng, tránh việc đưa dẫn chứng chung chung kiểu như có những người, có bạn học sinh, ở một trường học nọ.… VI. KĨ NĂNG DIỄN ĐẠT Trong quá trình viết bài làm văn nghị luận xã hội, có một yêu câu vô cùng quan trọng không thể bỏ qua là kĩ năng diễn đạt. Học sinh cần rèn luyện kĩ năng diễn đạt tốt bằng cách vận dụng kết hợp các thao tác lập luận thao tác lập luận so sánh, giải thích, chứng minh, phân tích, bình luận, bác bỏ và các phương thức biểu đạt thuyết minh, biểu cảm, nghị luận đã học. Với những học sinh có khả năng diễn đạt tốt và văn viết có cảm xúc, chắc chắn bài viết của các em sẽ đạt được kết quả cao nhất nếu có sự chuẩn bị tốt theo các hướng dẫn ở phần này. Trong quá trình dạy, trong các tiết trả bài, giáo viên cần quan tâm nhiều đến việc rèn luyện các thao tác lập luận cho học sinh thông qua các dẫn chứng cụ thể trong bài viết của các em. Người thực hiện Phạm Thanh Hà – THPT Hà Trung 16 PHẦN III THỰC NGHIỆM VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP I. TIẾN HÀNH THỰC NGHIỆM Các nội dung được trình bày ở phần II của đề tài này đã được ứng dụng ở trường THPT Hà Trung trong 2 năm học 2011 – 2012 và năm học 2012 -2013. - Đối tượng thực nghiệm đại trà Học sinh lớp 12 của trường. - Thời gian tiến hành + Năm học 2011 – 2012 Thực hiện trong các tiết dạy lí thuyết về nghị luận xã hội, các tiết trả bài số 1 và số 3 ở chương trình ngữ văn 12 cơ bản; các tiết trả bài số 1, số 3 và số 6 trong chương trình ngữ văn 12 nâng cao; nội dung thực nghiệm còn được tiến hành trong 2 tuần ôn tập thi tốt nghiệp trung học phổ thông theo quy định của khung chương trình 37 tuần. + Năm học 2012 – 2013 Thực hiện trong các tiết dạy lí thuyết về nghị luận xã hội, các tiết trả bài số 1 và số 3 ở chương trình ngữ văn 12 cơ bản; các tiết trả bài số 1, số 3 và số 6 trong chương trình ngữ văn 12 nâng cao Thực hiện trong nội dung dạy phụ đạo khối 12 học 1 buổi/ tuần trong cả năm đan xen trong chương trình phụ đạo Ngữ Văn nói chung và nội dung thực nghiệm còn được tiến hành trong 2 tuần ôn tập thi tốt nghiệp trung học phổ thông theo quy định của khung chương trình 37 tuần. - Phương pháp thực nghiệm là Ở những tiết đầu, giáo viên trình bày kĩ phương pháp, cách thức tiến hành chuẩn bị cho một bài văn nghị luận xã hội. Sau đó, giáo viên ra đề, học sinh tự tìm hiểu đề, tìm dẫn chứng, lập dàn bài, tiến hành viết bài. Giáo viên kiểm tra, chấm, sửa chữa tỉ mỉ và cung cấp thông tin liên quan đến đề bài. II. KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM Chúng tôi đã tiến hành thống kê điểm bài kiểm tra của loại đề nghị luận xã hội của học sinh các lớp 12 trong quá trình trực tiếp giảng dạy. Các bài viết số 1, số 3 được đánh giá thang điểm 10/10. Các bài kiểm tra học kì I, II được đánh giá thang điểm 3/10. Như vậy, chúng tôi đã thống kê con số đạt điểm 5 trở lên của bài viết số 1, 3 và con số điểm 1,5 trở lên của bài kiểm tra học kì. Chúng tôi cũng đã so sánh kết quả giữa các thời điểm, đặc biệt là ở 2 thời điểm Khi giáo viên chưa cung cấp nội dung thực nghiệm ở bài viết số 1 và sau khi giáo viên đã tiến hành ôn tập cho học sinh ở các bài viết sau. Kết quả như sau Năm học 2011-2012 Tên bài viết 12A Bài số I 30% Bài số III 40% Bài kiểm tra HKI 50% Bài kiểm tra HKII 62% Lớp học 12N 37% 45% 52% 65% Người thực hiện Phạm Thanh Hà – THPT Hà Trung Ghi chú Chương trình CB Chương trình CB Chương trình CB Chương trình CB 17 Năm học 2012-2013 Tên bài viết 12C Bài số I 42% Bài số III 50% Bài kiểm tra HKI 65% Bài kiểm tra HKII 78% Lớp học 12M 40% 51% 67% 83% Ghi chú Chương trình CB Chương trình CB Chương trình CB Chương trình CB Nhìn vào bảng so sánh trên, chúng tôi nhận thấy chất lượng bài làm nghị luận xã hội của học sinh lớp 12 có được cải thiện rõ rệt tính từ thời điểm trả bài viết số 1 hằng năm. Rõ ràng là khi được hướng dẫn tỉ mỉ, được cung cấp nội dung cần thiết, được rèn luyện kĩ năng nhuần nhuyễn, học sinh đã có kết quả làm bài tốt hơn hẳn. Đây chính là minh cho tính khả thi của đề tài này. III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP Trong quá trình tiến hành thực nghiệm tôi đã đúc rút được một số giải pháp cơ bản sau - Không cần phải chờ đến năm học 12 mới rèn luyện kĩ năng làm bài nghị luận xã hội cho học sinh. Trên cơ sở kiến thức về văn nghị luận xã hội các em đã có ở THCS, giáo viên cần tăng cường rèn luyện phương pháp, kĩ năng làm bài nghị luận xã hội cho học sinh THPT từ lớp 10 thông qua các đề kiểm tra định kì, kiểm tra thường xuyên mứcđộ kiểm tra, đánh giá tùy thuộc vào loại bài kiểm tra. - Tạo hứng thú cho học sinh trong giờ học văn vốn đã không dễ, để các em có hứng thú trong làm bài nghị luận xã hội càng khó khăn hơn. Một trong những yếu tố gợi hứng thú cho các em khi làm bài nghị luận xã hội là việc ra đề của giáo viên. Việc đổi mới cách thức ra đề thi là vô cùng cần thiết. Xu hướng chung của đổi mới đề thi môn văn là kiểu ra đề “mở”. Đề bài nghị luận xã hội rất phù hợp với kiểu ra đề mở. Đó là mở về phạm vi đề tài, mở về thao tác nghị luận, mở về nội dung kiến thức, mở cho những suy nghĩ độc lập và những kiến giải sáng tạo...để từ đó "mở" ra một không gian rộng lớn, kích thích suy nghĩ, sáng tạo và hứng thú làm bài của các em. Chẳng hạn như + Em hãy viết một bài văn với tiêu đề “Điều kỳ diệu của tình yêu thương”. + Em hãy viết một bài văn với tiêu đề “Góc sân và khoảng trời”. + Suy nghĩ của em về bệnh vô cảm của con người thời hiện đại. + Bàn về hai chữ “Danh” và “Thực” của con người trong cuộc đời + Câu chuyện về Chim Én và Dế Mèn Mùa xuân đất trời đẹp, Dế Mèn thơ thẩn ở cửa hang, hai con Chim Én thấy tội nghiệp bèn rủ Dế Mèn dạo chơi trên trời. Mèn hốt hoảng. Nhưng sáng kiến của Chim Én đưa ra rất giản dị hai Chim Én ngậm hai đầu của một cọng cỏ khô, Mèn ngậm vào giữa. Thế là cả ba cùng bay lên. Mây nồng nàn, trời đất gợi cảm, cỏ hoa vui tươi. Dế Mèn say sưa. Sau một hồi lâu miên man, Mèn ta chợt nghĩ bụng ơ hay, việc gì ta phải gánh hai con Én này trên vai cho mệt nhỉ. Sao ta không quẳng gánh Người thực hiện Phạm Thanh Hà – THPT Hà Trung 18 nợ này đi để dạo chơi một mình có sướng hơn không? Nghĩ là làm, Mèn há mồm ra. Và nó rơi vèo xuống đất như một chiếc lá lìa cành. Theo Đoàn Công Lê Huy trong mục “Trò chuyện đầu tuần” của Báo Hoa học trò. Quà tặng cuộc sống mà anh chị nhận được từ câu chuyện trên? Đề “mở” yêu cầu cao ở học sinh sự sáng tạo, linh hoạt, những suy nghĩ, cách kiến giải độc lập, khó có thể lệ thuộc vào các loại tài liệu tham khảo. Kiến thức học được ở nhà trường cũng như tích lũy trong đời sống, giờ đây có dịp được phát biểu ra theo cảm nhận và suy nghĩ riêng của học sinh. Bài văn khi đó sẽ đích thực là một tác phẩm nhỏ, là tiếng nói riêng của từng em, không ai giống ai, như một vườn hoa nhiều hương sắc, chứ không chỉ là một bông hoa theo một khuôn mẫu cho sẵn. Bài viết của học sinh sẽ không bị lệ thuộc, bắt chước hay ám ảnh bởi các bài văn mẫu đang tràn lan trên thị trường sách hiện nay. - Một trong những kinh nghiệm khi ra đề nghị luận xã hội cho học sinh là không ra đề quá khó theo kiểu đánh đố, học sinh không làm được sẽ gây tâm lí chán nản. Tuy nhiên cũng không ra đề quá dễ, kiểu đề chung chung, học sinh không phải suy nghĩ nhiều chỉ “chém gió” cũng có thể kiếm được điểm khá. Ra đề làm sao phải “có vấn đề” buộc học sinh phải có suy nghĩ, tìm tòi, trăn trở mới hiểu thấu đáo vấn đề. Như thế mới rèn luyện được khả năng tư duy và lập luận của các em. Xin đơn cử một ví dụ Đề bài Nhà văn Nga Lep Tônxtôi từng nói “Bạn đừng nên chờ đợi những quà tặng bất ngờ của cuộc sống mà hãy tự mình làm nên cuộc sống”. Một đề thi mới đọc qua có cảm tưởng rất dễ nhưng nếu học sinh không hiểu và giải thích thấu đáo ý nghĩa cụm từ “quà tặng bất ngờ của cuộc sống” chắc chắn sẽ không thể làm tốt đề này. - Giáo viên hướng dẫn học sinh nắm vững và vận dụng linh hoạt qui trình các bước tiến hành một bài nghị luận xã hội. Cho các em thực hành nhiều với các kiểu đề phong phú, đa dạng. Một điều vô cùng cần thiết là giáo viên phải thực sự nhiệt tình trong việc chấm, chữa bài, sửa và uốn nắn cho các em thật tỉ mỉ về kĩ năng trình bày lập luận, huy động kiến thức, bày tỏ quan điểm thái độ riêng… C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ I. KẾT LUẬN Người thực hiện Phạm Thanh Hà – THPT Hà Trung 19

rèn luyện kỹ năng làm văn nghị luận