Atlas13 said: Khi mà vợ là con gái một, ông bà không còn mà gặp trường hợp bố mẹ và vợ cùng qua đời thì con rể sẽ hưởng hết nhé. rể làm quái gì có trong thứ tự thừa kế mà đòi có, bố mẹ vợ với vợ chết hết thì anh chị em, cháu của bố mẹ vợ hưởng. Theo ông Peter Debrine, hệ thống di sản của Việt Nam được cả thế giới biết đến, nhưng không nên coi đây là "con gà đẻ trứng vàng". Việc phát triển du lịch cần nằm trong tổng thể xã hội, coi văn hóa là nền tảng để tạo sức lan tỏa. Nhấn mạnh yếu tố con người trong Theo đó, đối với di sản thừa kế là đất phi nông nghiệp không phải đất ở, đất nông nghiệp thì người Việt Nam định cư ở nước ngoài chỉ được hưởng giá trị của phần thừa kế mà không được nhận chuyển quyền đối với di sản thừa kế này. 3.1 Trường hợp Những trường hợp không có người hưởng di sản theo pháp luật như không có người thừa kế theo các hàng thừa kế do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản… Theo đó, để giải quyết tình trạng này, Điều 622 Bộ luật Dân sự có quy định: Tình huống 1: Tình huống 2: 1. Các bước làm bài chia thừa kế theo di chúc và theo pháp luật. ⇒ Xác định di sản thừa kế; ⇒ Chia thừa kế theo di chúc; ⇒ Chia thừa kế theo pháp luật; ⇒ Tính 2/3 của suất thừa kế cho những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di Tuy nhiên, Điều 621 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về những người sau đây không được hưởng di sản dù thuộc hàng thừa kế theo quy định, bao gồm: Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó; gB0ipw. Pháp luật hiện nay có quy định nào về việc tước quyền thừa kế đối với con cái do ngược đãi, hành hạ cha, mẹ không? Người lập di chúc giả mạo để chiếm đoạt di sản nhưng bị phát hiện kịp thời có được hưởng di sản thừa kế không? Theo quy định tại Điều 643 Bộ luật Dân sự, những người sau đây không được quyền hưởng di sản thừa kế a Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó; b Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản; c Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng; d Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, huỷ di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản. Theo quy định trên, con cái có hành vi ngược đãi, hành hạ cha, mẹ hoặc người lập di chúc giả mạo để chiếm đoạt di sản sẽ không được quyền hưởng di sản thừa kế. Tuy nhiên, pháp luật cũng có quy định những người thuộc vào một trong những trường hợp nói trên vẫn được hưởng di sản, nếu người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc. Như vậy, về nguyên tắc, việc tước quyền hưởng di sản thừa kế của những người nói trên chỉ thực hiện trong trường hợp thừa kế theo pháp luật. Nếu di chúc cho họ được hưởng di sản bị phát hiện là giả mạo thì người giả mạo không được hưởng di sản thừa kế. I - Tình huống Ông A kết hôn với bà B, có 2 con là C và D. Khi D được 2 tuổi, ông A và bà B đã cho đi làm con nuôi gia đình ông X. Quá trình chung sống ông bà tạo dựng được tài sản chung trị giá 220 triệu đồng. Năm 2008, bà B chết, ông A lo mai táng hết 20 triệu. Năm 2009, ông A kết hôn với bà M, sinh được 1 người con là N và cùng tạo lập khối tài sản chung trị giá 180 triệu. Năm 2016, ông A lập di chúc hợp pháp có nội dung “cho N hưởng 1/2 tài sản của ông A”. Năm 2017, ông A chết Sau đám tang ông A, chị C yêu cầu bà M cho mình hưởng thừa kế, Bà M không những không đồng ý mà còn tìm cách giết C. Rất may, sự việc được phát hiện kịp thời nên C chỉ bị thương nhẹ. Bà M bị toà án xử 3 năm tù giam Anh/chị hãy giải quyết việc chia thừa kế nói trên. Biết rằng Cha mẹ ông A và bà B đều đã chết trước ông A và bà B. II - Giải quyết tình huống Năm 2008, bà B chết. Di sản bà B để lại là 110 triệu đồng 1/2 khối tài sản chung với ông A. Sau khi trừ đi chi phí mai táng điều 683 BLDS 2005, di sản bà B dùng để chia thừa kế là 90 triệu đồng. "Điều 683. Thứ tự ưu tiên thanh toán Các nghĩa vụ tài sản và các khoản chi phí liên quan đến thừa kế được thanh toán theo thứ tự sau đây 1. Chi phí hợp lý theo tập quán cho việc mai táng; 2. Tiền cấp dưỡng còn thiếu; 3. Tiền trợ cấp cho người sống nương nhờ; 4. Tiền công lao động; 5. Tiền bồi thường thiệt hại; 6. Thuế và các khoản nợ khác đối với Nhà nước; 7. Tiền phạt; 8. Các khoản nợ khác đối với cá nhân, pháp nhân hoặc chủ thể khác; 9. Chi phí cho việc bảo quản di sản; 10. Các chi phí khác." Do bà B chết không để lại di chúc nên di sản bà để lại sẽ được chia theo pháp luật điều 675 BLDS 2005. "Điều trường hợp thừa kế theo pháp luật 1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong những trường hợp sau đây a Không có di chúc; b Di chúc không hợp pháp; c Những người thừa kế theo di chúc đều chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn vào thời điểm mở thừa kế; d Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối quyền nhận di sản. 2. Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản sau đây a Phần di sản không được định đoạt trong di chúc; b Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật; c Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối quyền nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn vào thời điểm mở thừa kế." Theo đó, ông A, C, D là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà B và mỗi người được hưởng thừa kế của bà B là 30 triệu đồng điều 676 BLDS 2005. "Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật 1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây a Hàng thừa kế thứ nhất gồm vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết; b Hàng thừa kế thứ hai gồm ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại; c Hàng thừa kế thứ ba gồm cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại. 2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau. 3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản." Lưu ý Thời hiệu thừa kế là 10 năm với động sản; 30 năm với bất động sản điều 623 BLDS 2015 "Điều 623. Thời hiệu thừa kế 1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau a Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này; b Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này. 2. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. 3. Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế." Năm 2017 ông A chết để lại di chúc “cho N hưởng ½ tài sản của ông A”. Di sản ông A để lại là 110 triệu đồng trong khối tài sản chung với bà B + 30 triệu đồng hưởng thừa kế của bà B + 90 triệu đồng trong khối tài sản chung với bà M = 230 triệu đồng. Theo di chúc, N được hưởng ½ di sản của ông A = 115 triệu đồng. Còn 115 triệu đồng không được ông A định đoạt trong di chúc sẽ được chia theo pháp luật điều 650 BLDS 2005. Bà M đã bị kết án về hành vi đối với C là người không được quyền hưởng di sản điểm c, khoản 1 điều 621 BLDS 2015. "Điều 621. Người không được quyền hưởng di sản 1. Những người sau đây không được quyền hưởng di sản a Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó; b Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản; c Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng; d Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản. 2. Những người quy định tại khoản 1 Điều này vẫn được hưởng di sản, nếu người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc." Theo đó, 115 triệu đồng được chia theo pháp luật cho C, D, N mỗi người một phần bằng nhau 38,3 triệu đồng. Người được hưởng thừa kế là người được hưởng di sản do người khác để lại. Tuy nhiên, để được hưởng di sản do người khác để lại, cá nhân phải không thuộc trường hợp không được quyền hưởng di sản mà pháp luật quy định. Cá nhân không được quyền hưởng di sản là những người có hành vi nghiêm trọng tới mức pháp luật xác định họ không xứng đáng được hưởng di sản nữa. Trong trường hợp này gọi là “bị tước quyền hưởng di sản”. Trường hợp không được quyền hưởng di sản chủ yếu phụ thuộc vào quy định của pháp luật, ý chí của người để lại di sản chỉ có vai trò “khôi phục” quyền hưởng di sản cá nhân trong một số hoàn cảnh pháp luật quy định bị tước quyền hưởng di sản có thể được người để lại di sản quyết định cho tiếp tục hưởng di sản. Những người không được hưởng di sản đã được quy định tại Điều 7 Pháp lệnh thừa kế, Bộ luật dân sự 1995, Điều 643 Bộ luật dân sự 2005 và ngày nay được quy định tại Điều 621 Bộ luật dân sự 2015 1. Những người sau đây không được quyền hưởng di sản a Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó; b Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản; c Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng; d Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản. 2. Những người quy định tại khoản 1 Điều này vẫn được hưởng di sản, nếu người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc. Ở đây, Bộ luật theo hướng “không được quyền hưởng di sản” nên người không được quyền hưởng di sản vẫn còn tư cách người thừa kế và chỉ quyền hưởng di sản không có. *Do xâm phạm tới người để lại di sản 1. Xâm phạm tới quyền nhân thân Theo điểm a khoản 1 Điều 621, Bộ luật dân sự 2015 a Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó; Đây là những trường hợp người được hưởng thừa kế có những hành vi nghiêm trọng đối với người để lại di sản. Ví dụ Người chồng giết người vợ vì người vợ ngoại tình. Thông thường, người vợ chết thì người chồng được hưởng thừa kế nhưng do người chồng đã cố ý xâm phạm tính mạng của người vợ nên pháp luật không cho phép người chồng được hưởng di sản của người vợ. Để bị xác định là người không được quyền hưởng di sản trên cơ sở quy định tại Điều 621, chúng ta phải hội tụ đủ hai điều kiện Điều kiện về nội dung Người liên quan đã “cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó”. Ở đây chúng ta phải chứng mình được người liên quan có những hành vi xâm phạm đó hay không, bên cạnh đó, chúng ta cần phải chứng minh hành vi của người liên quan là “cố ý” nên nếu có việc xâm phạm như vậy những là “vô ý” thì không thuộc trường hợp bị tước quyền hưởng di sản. Tương tự, “trong trường hợp người thừa kế chỉ bị kết án về hành vi vô ý làm chết người để lại di sản , người đó vẫn được hưởng thừa kế theo pháp luật”. Điều kiện về hình thức hành vi cố ý nêu trên phải được “kết án”. Với quy định này, khi cá nhân chưa bị “kết án” thì không thuộc trường hợp “không được quyền hưởng di sản”. 2. Vi phạm quyền được nuôi dưỡng Những người có nghĩa vụ nuôi dưỡng nhau mà không thực hiện nuôi dưỡng cũng có thể bị tước quyền hưởng di sản. Theo điểm b khoản 1 Điều 621, Bộ luật dân sự 2015 b Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản Với quy định trên, việc tước quyền hưởng di sản của người thông thường được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào việc người này có bị tuyên án hay không. Tuy nhiên, để tước quyền hưởng di sản được áp dụng, người được thừa kế phải thuộc trường hợp có “nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản” và đã “vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ” này. Ví dụ Một cụ già đã có con cái, nhưng lại bị con cái bỏ mặc không chăm sóc, nuôi dưỡng trong khi cụ già có nhu cầu chăm sóc, nuôi dưỡng. *Do xâm phạm tới việc lập di chúc của người để lại di sản 3. Giả mạo di chúc Cá nhân được quyền tự do lập di chúc hay không lập di chúc, khi lập di chúc, cá nhân được tự do xác định người hưởng di sản cũng như phần di sản cụ thể cho từng người. Tại điểm d khoản 1 Điều 621 Bộ luật dân sự 2015 sẽ không được quyền hưởng di sản d Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản. Việc biết người khác làm giả mạo di chúc có được suy luận là tham gia giả mạo di chúc hay không? Việc biết người khác giả mạo không thể suy đoán người này cũng tham gia vào công việc giả mạo nhưng nếu người đó biết mà không khai báo và có hành vi tiếp tay cho việc giả mạo di chúc thì người đó cũng sẽ bị quy vào việc tham gia giả mạo di chúc. 4. Trái ý chí của người để lại di sản Để tước quyền hưởng di sản của người giả mạo di chúc, chúng ta phải xác định được việc giả mạo di chúc “trái với ý chí của người để lại di sản”. Nghĩa là, nếu có giả mạo di chúc nhưng không trái với ý chí của người quá cố thì người giả mạo di chúc không bị tước quyền hưởng di sản. Làm thế nào để chứng minh di chúc giả mạo trái với ý chí của người để lại di sản? Chúng ta phải biết được nội dung của di chúc giả mạo và ý chí của người để lại di sản, sau đó đối chiếu 2 yếu tố này để có câu trả lời. Về nội dung của di chúc giả mạo thì dễ nhận biết. Nhưng nếu không có chứng cứ chứng minh ý chí của người để lại di sản thì chúng ta nên làm như thế nào? Khi người quá cố không nói rõ ý chí của mình trước khi chết thì họ ý định “ngầm” chuyển dịch di sản của mình cho người khác theo các quy định của pháp luật. Do đó, nếu giả mạo di chúc trái với các quy định này cho phép suy luận là trái với ý chí của người để lại di sản. 5. Người thụ hưởng từ di chúc giả mạo Theo Bộ luật dân sự người không được quyền hưởng di sản là “người … giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản”. Với quy định này, có thể hiểu người được hưởng di sản theo di chúc giả mạo và người có hành vi giả mạo di chúc là 1. Vậy trong trường hợp người giả mạo di chúc không hưởng di sản từ việc giả mạo và người được hưởng di sản từ việc giả mạo là người khác thì pháp luật xử lý như thế nào? Trong trường hợp này, “người khác” thường sẽ là người thân hay là người có mối quan hệ thân thiết, gần gũi với người giả mạo di chúc vì vậy việc người giả mạo di chúc không phải là người được hưởng thừa kế mà “người thân” được hưởng thì không có khác biệt gì lớn vậy nên “người thân” trong di chúc giả mạo sẽ không được hưởng tài sản thừa kế. Đây là vấn đề chưa được đề cập trong bộ luật hiện hành vậy nên chúng ta nên mở rộng thêm là quy định này cũng được áp dụng cho cả việc giả mạo nhằm làm cho “người thân” của người giả mạo được hưởng di sản. Bài viết được tham khảo từ sách “Luật thừa kế Việt Nam – Bản án và bình luận bản án” của Đỗ Văn Đại. Các tìm kiếm liên quan đến Trường hợp không được quyền hưởng di sản sự khác nhau giữa truất quyền thừa kế và không được hưởng di sản, pháp luật quy định ai là người không được làm chứng trong di chúc?, truất quyền thừa kế và tước quyền thừa kế, người không được quyền hưởng di sản theo bộ luật dân sự 2015, những người không được hưởng di sản thừa kế, điều 643 bộ luật dân sự 2015, người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc, quyền thừa kế là gì Quyền thừa kế là một phạm trù pháp luật, nó chỉ xuất hiện, tồn tại trong một xã hội có nhà nước và pháp luật. Pháp luật luôn tôn trọng và bảo đảm quyền tự định đoạt của cá nhân đối với tài sản thuộc sở hữu của họ. Do vậy pháp luật cho phép cá nhân có quyền định đoạt tài sản của mình cho người khác trước khi chết theo di chúc hoặc để lại tại sản cho người khác thừa kế theo pháp luật. Bên cạnh quyền để lại di sản, cá nhân còn có quyền hưởng di sản. Họ có thể hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. Ngoài ra họ còn có thể từ chối việc hưởng di sản đó. Tuy nhiên trong thực tế không phải lúc nào người thừa kế cũng có quyền hưởng di sản của người chết để lại. Bởi họ đã có những hành vi vi phạm nghiêm trọng đến nghĩa vụ của mình, hoặc có những hành vi trái pháp luật, trái đạo đức,… xâm phạm đến danh sự, uy tín, tính mạng, sức khỏe của người để lại di sản. Những trường hợp như vậy pháp luật gọi là người không được quyền hưởng di sản. Vậy những người không được quyền hưởng di sản gồm những ai? Tại sao họ lại không được quyền hưởng di sản? Có ngoại lệ nào cho trường hợp này hay không? Bài viết này của chúng tôi sẽ giải đáp thắc mắc trên của bạn đọc. Người không được quyền hưởng di sản Những trường hợp không được quyền hưởng di sản Ngoại lệ đối với trường hợp không được quyền hưởng di sản Theo quy định tại Điều 621 Bộ luật dân sự năm 2015 thì người không được quyền hưởng di sản bao gồm cả người thừa kế theo pháp luật và người thừa kế theo di chúc. Họ là những người đáng lẽ được hưởng di sản thừa kế theo pháp luật của người để lại di sản hoặc đã được người lập di chúc cho họ hưởng nhưng những người này lại có hành vi trái pháp luật, trái đạo đức nên bị pháp luật tước đi quyền hưởng di sản. Quy định này của pháp luật nhằm đảm bảo và nâng cao giá trị truyền thống, đạo đức đối với các cá nhân trong xã hội. Qua đó cũng có tác dụng phòng ngừa, răn đe những người có suy nghĩ về hành vi, thái độ không đúng chuẩn mực, vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội đối với người để lại di sản, những người thừa kế khác nhằm hưởng di sản. Những trường hợp không được quyền hưởng di sản Những người không được quyền hưởng di sản bao gồm những trường hợp sau đây Trường hợp thứ nhất Người thừa kế là người không được quyền hưởng di sản khi bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó Điểm a Khoản 1 Điều 621 Bộ luật dân sự năm 2015. Cơ sở pháp lý để tước đoạt đi quyền hưởng di sản của người thừa kế đó là phải có một bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật kết tội họ về những hành vi trái pháp luật nêu trên. Do vậy nếu như người thừa kế mặc dù có những hành vi như xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc những hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người để lại di sản nhưng không bị kết án thì họ vẫn được hưởng di sản thừa kế. Hoặc họ đã bị kết án những bản án chưa có hiệu lực pháp luật thì cũng chưa có căn cứ pháp lý để tước bỏ quyền được hưởng di sản thừa kế của họ. Bản án của tòa án chỉ được coi là căn cứ để tước đoạt đi quyền hưởng di sản của một người chỉ khi có hiệu lực pháp luật. Bởi lẽ theo quy định pháp luật hình sự hiện hành thì không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Cần chú ý là hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe của người thừa kế đối với người để lại di sản phải là một hành vi được thực hiện với lỗi cố ý, có thể là cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp. Ngoài ra, hành vi này của họ không cần quan tâm đến mục đích của họ có phải là trục lợi vì mục đích được hưởng di sản hay vì mục đích khác, thì họ vẫn bị tước bỏ quyền hưởng di sản. Sự ngược đãi, hành hạ, xúc phạm đến danh dự nhân phẩm của người để lại di sản là những hành vi đối xử trái pháp luật và vô đạo đức thường được thể hiện thông qua hành động chửi mắng, nhục mạ, bỏ mặc, bỏ đói,… làm cho người để lại di sản đau khổ về mặt tinh thần, danh dự bị xúc phạm, dày vò và đâu đớn về mặt thể xác. Điểm hạn chế của quy định pháp luật dân sự hiện hành là không xác định rõ ràng những hành vi nêu trên như thế nào là nghiêm trọng? Tuy nhiên chỉ cần có hành vi đó và đã bị kết án bằng một bản án có hiệu lực pháp luật là cũng đủ điều kiện để tước bỏ quyền hưởng di sản của người thừa kế. Trường hợp thứ hai Người thừa kế là người không được quyền hưởng di sản khi có vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản Điểm b Khoản 1 Điều 621 Bộ luật dân sự năm 2015. Truyền thống tốt đẹp trong mỗi gia đình của dân tộc Việt Nam chính là sự giúp đỡ về vật chất, quan tâm chăm sóc về tính thần giữa các thành viên trong gia đình. Người thừa kế bị coi là có hành vi vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng chính là những người được Luật hôn nhân và gia đình xác định có nghĩa vụ phải nuôi dưỡng người để lại di sản, nhưng họ đã không thực hiện nghĩa vụ đó. Những trường hợp cá nhân có nghĩa vụ nuôi dưỡng theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 gồm + Cha, me có nghĩa vụ nuôi dưỡng con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình Khoản 2 Điều 69 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Trường hợp này nếu người thừa kế là cha mẹ của người để lại di sản người chưa thành niên, hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình mà vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng thì sẽ không được hưởng di sản. Lưu ý là quy định này áp dụng với cả cha dượng, mẹ kế đối với con của bên kia cùng sống chung với mình Khoản 1 Điều 79 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. + Con có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ mất năng lực hành vi dân sự, ốm đau, già yếu, khuyết tật; trường hợp gia đình có nhiều con thì các con phải cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ Khoản 2 Điều 71 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Do vậy nếu như người thừa kế là con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng cha, mẹ nêu trên thì không được hưởng di sản do cha, mẹ để lại. + Anh, chị, em có nghĩa vụ nuôi dưỡng nhau trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có điều kiện nuôi dưỡng con Điều 105 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Do vậy nếu người thừa kế là anh chị em đối với người để lại di sản nhưng họ đã vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng nêu trên thì họ không được hưởng di sản. + Ông bà nội, ông bà ngoại có nghĩa vụ nuôi dưỡng cháu trong trường hợp cháu chưa thành niên, cháu đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình mà không có anh, chị, em nuôi dưỡng Khoản 1 Điều 104 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Do đó, nếu người để lại di sản là cháu thuộc vào trường hợp nêu trên mà ông bà nội, ông bà ngoại là người thừa kế nhưng đã không thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng thì họ không có quyền hưởng di sản của cháu. + Cháu đã thành niên có nghĩa vụ nuôi dưỡng trong trường hợp ông bà nội, ông bà ngoại không có con để nuôi dưỡng mình Khoản 2 Điều 104 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Ngược lại với trường hợp nêu trên, nếu cháu là người thừa kế nhưng đã vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng với ông bà nội, ông bà ngoại người để lại di sản của mình thì sẽ bị tước bỏ quyền được hưởng di sản. Trường hợp thứ ba Người thừa kế là người không được quyền hưởng di sản khi bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng Điểm c Khoản 1 Điều 621 Bộ luật dân sự năm 2015. Tương tự như trường hợp đầu tiên, người thừa kế trong trường hợp này chỉ bị tước bỏ quyền hưởng di sản trong trường hợp họ có hành vi nêu trên thực hiện với lỗi cố ý và có bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên khác với trường hợp đầu tiên, người thừa kế thực hiện hành vi trái pháp luật bất luận với mục đích gì đều bị tước bỏ quyền hưởng thừa kế, thì trường hợp này điều kiện thứ ba để họ bị tước bỏ quyền hưởng thừa kế chính là mục đích của họ khi thực hiện hành vi trái pháp luật, phải nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng. Do vậy, nếu như người thừa kế thực hiện hành vi nêu trên với lỗi cố ý, đã bị kết tội bằng một bản án có hiệu lực pháp luật nhưng lại nhằm mục đích khác với mục đích đã nêu trong điều luật thì họ cũng sẽ không bị tước bỏ quyền hưởng di sản thừa kế. Trường hợp thứ tư Người thừa kế là người không được quyền hưởng di sản khi có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản Điểm d Khoản 1 Điều 621 Bộ luật dân sự năm 2015. Đối với trường hơp thứ tư này chúng tôi có thể phân tích các hành vi nêu trên của người thừa kế như sau Hành vi lừa dối người để lại di sản trong trường hợp này chính là việc cung cấp thông tin sai sự thật làm cho người để lại di sản tin vào thông tin đó và lập một di chúc trái với ý chí đích thực của mình. Hành vi cưỡng ép người để lại di sản trong việc lập di chúc chính là hành vi tác động đến tâm lý, tinh thần của người để lại si sản trái với ý nguyện đích thực của họ. Tiếp theo hành vi giả mạo di chúc là việc xác lập một bản di chúc giả cả nội dung lẫn hình thức nhằm làm cho người khác tin rằng đó là di chúc cho người chết để lại. Giả mạo di chúc nhằm hướng tới sự có lợi cho một hoặc một số người nhất định trong việc hưởng di sản mà việc hưởng lợi này hoàn toàn trái với ý chí của người đã chết. Hành vi sửa chữa di chúc là việc thay đổi một phần hoặc toàn bộ nội dung di chúc mà người để lại di sản đã lập nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản. Hành vi cuối cùng là hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản. Hành vi này thông thường chỉ xuất hiện trong trường hợp người có hành vi nêu trên là người được thừa kế theo pháp luật nhưng theo nội dung di chúc do người để lại di sản đã lập lại không có tên của họ hoặc có nhưng phần di sản họ nhận ít hơn so với phần di sản mà họ được nhận nếu được chia theo pháp luật. Do đó, họ thực hiện hành vi hủy di chúc hoặc che giấu di chúc để di sản được chia theo pháp luật. Các hành vi nêu trên đều là những hành vi xâm phạm đến ý chí đích thực của người lập di chúc và xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của những người thừa kế khác. Vì vậy họ thuộc vào trường hợp người không được quyền hưởng di sản theo quy định của Bộ luật dân sự hiện hành. Ngoại lệ đối với trường hợp không được quyền hưởng di sản Khi những người thừa kế thuộc vào trường hợp người không được quyền hưởng di sản như đã phân tích nêu trên thông thường họ sẽ bị tước bỏ quyền hưởng di sản của mình. Tuy nhiên, khi xác định việc tước bỏ quyền này của họ trong các trường hợp nói trên cần phải tôn trọng quyền định đoạt của người lập di chúc. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 621 Bộ luật dân sự năm 2015 thì những người thừa kế nói trên vẫn được hưởng di sản nếu người để lại di sản đã biết hành vi của người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc. Đây chính là ngoại lệ đối với trường hợp người không được quyền hưởng di sản. Tuy nhiên cần chú ý đến thời điểm lập di chúc với thời điểm những người thừa kế có hành vi trái pháp luật nêu trên để xác định xem người thừa kế đó có bị tước bỏ quyền hưởng di sản hay không. Bạn đang theo dõi bài viết được biên tập trên trang web của Nếu có thắc mắc hay cần hỗ trợ tư vấn pháp luật từ các Luật sư, chuyên gia pháp lý vui lòng liên hệ với chúng tôi qua Hotline để được hỗ trợ hiệu quả và tối ưu nhất. Trân trọng./. Ths. Bùi Quang Hưng Chào luật sư, cho tôi hỏi về việc người nào không có quyền hưởng thừa kế khi đã có di chúc như sau Gia đình tôi có 2 người con gái, bố tôi đã mất, chị tôi đã lấy chồng. Mẹ tôi đã lập di chúc để lại thừa thừa kế cho con gái thứ hai toàn bộ tài sản. Vậy xin hỏi luật sư mẹ tôi viết di chúc thừa kế cho con gái thứ 2, sau khi chết, thì con gái đầu có tranh chấp được không ? xin cảm ơn. Trong quan hệ thừa kế, những người là vợ, chồng, con của người chết hoặc những người được chỉ định trong di chúc là những người được hưởng thừa kế của người chết. Tuy nhiên, trong thực tế có những trường hợp họ đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của mình và người có những hành vi như vậy không được quyền hưởng di sản của người để lại thừa kế. Sau đây, Luật sư X xin giải đáp thắc mắc giúp bạn câu hỏi người nào không được quyền hưởng di sản của người đã mất ? Pháp luật luôn luôn tôn trọng và bảo vệ quyền hưởng di sản của người thừa kế. Nhưng, những người theo quy định trên có những hành vi bất xứng vi phạm nghĩa vụ của mình, trái với đạo đức xã hội hoặc có những hành vi trái pháp luật xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm của người để lại di sản; xâm phạm tính mạng người thừa kế khác để nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng… Để trả lời cho câu hỏi người nào không được quyền hưởng di sản của người đã mất? thì căn cứ Điều 621 Bộ luật dân sự quy định phạm vi những người không được quyền hưởng di sản do có những hành vi bất xứng. Điều 621. Người không được quyền hưởng di sản 1. Những người sau đây không được quyền hưởng di sản a Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó; b Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản; c Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng; d Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản. 2. Những người quy định tại khoản 1 Điều này vẫn được hưởng di sản, nếu người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc. Người nào không được quyền hưởng di sản của người đã mất ? Người bị truất quyền hưởng di sản của người đã mất ? Người nào không được quyền hưởng di sản của người đã mất là người bị truất quyền. Truất quyền thừa kế không phải là một thuật ngữ pháp lý mà nó chỉ được đề cập đến tại Điều 626 Bộ luật Dân sự năm 2015, cụ thể Người lập di chúc có quyền chỉ định người thừa kế, truất quyền hưởng di sản của người thừa kế… Qua đó có thể hiểu, truất quyền thừa kế là việc người để lại di sản thừa kế không muốn để lại phần tài sản của mình cho một người nào đó và ý chí này được ghi vào di chúc hợp pháp. Đây là quyền của người để lại di chúc. Đồng nghĩa với đó là người bị truất quyền thừa kế là người không được hưởng di sản thừa kế theo di chúc. Ngoài ra, việc truất quyền thừa kế một ai đó cũng liên quan đến việc chia di sản thừa kế theo pháp luật. Cụ thể, tại khoản 3 Điều 651 Bộ luật Dân sự quy định Người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản Có thể hiểu, nếu hàng thừa kế thứ nhất không còn ai do bị truất quyền thừa kế, đã chết, từ chối hoặc không được quyền nhận di sản thì người ở hàng thừa kế thứ hai sẽ được hưởng. Tương tự với các hàng thừa kế sau. Như vậy, chỉ có một trường hợp duy nhất bị truất quyền thừa kế là do ý chí của người để lại di chúc. Đây là một trong những quyền của người để lại di sản thừa kế. Người bị tước quyền hưởng di sản của người đã mất ? Người lập di chúc có quyền để lại di sản cho bất cứ cá nhân, tổ chức nào, đồng thời cũng có quyền truất quyền hưởng di sản của người thừa kế theo pháp luật mà không cần phải nêu lí do. Như vậy, người bị truất quyền thừa kế chỉ bao gồm những người thừa kế theo pháp luật. Người lập di chúc truất quyền của người thừa kế theo pháp luật bằng cách ghi rõ trong di chúc là không cho người đó hưởng di sản. Khi đó, kể cả người thừa kế đủ điều kiện nhận di sản cũng không được hưởng di sản. Trường hợp di chúc vô hiệu từng phần hoặc có người thừa kế theo di chúc bị tước quyền hưởng di sản người lập di chúc không biết hành vi của họ, từ chối nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc, thì người bị truất quyền thừa kế cũng không có quyền hưởng phần di sản được chia theo pháp luật, trên cơ sở tôn trọng ý chí định đoạt của người lập di chúc. Những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc kể cả bị người lập di chúc truất quyền hưởng di sản thì vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trừ trường hợp họ từ chối nhận di sản hoặc bị tước quyền hưởng di sản. Thông tin liên hệ Trên đây là toàn bộ nội dung tư vấn của chúng tôi về “Người nào không được quyền hưởng di sản của người đã mất ?”. Nếu quý khách có nhu cầu soạn thảo hồ sơ tạm dừng công ty; giải thể công ty, tìm hiểu về thủ tục thành lập công ty ở việt nam; giấy ủy quyền xác nhận độc thân, cách tra cứu thông tin quy hoạch hoặc muốn sử dụng dịch vụ đăng ký bảo hộ thương hiệu, dịch vụ hợp pháp hóa lãnh sự tại hà nội của chúng tôi; mời quý khách hàng liên hệ đến hotline để được tiếp nhận. Liên hệ hotline FaceBook luatsuxYoutube Mời bạn xem thêm Hồ sơ thừa kế gồm những gì theo quy định pháp luật?Cháu ngoại có được hưởng thừa kế không?Mẫu viết di chúc thừa kế đất đai mới năm 2022 Câu hỏi thường gặp Di sản thừa kế là gì?Theo Điều 612 Bộ luật Dân sự 2015 ” Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác”Di sản thừa kế có thể là vật, tiền, giấy tiền có giá và quyền tài sản thuộc sở hữu của người để lại di sản. Việc xác định di sản thừa kế mà người chết để lại căn cứ và giấy tờ, tài liệu chứng minh quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hợp pháp đối với khối tài sản đó. Vợ chết cùng thời điểm với chồng thì vợ có được hưởng di sản thừa kế của chồng không?Theo quy định của Điều 615 Bộ luật dân sự 2015 thì người thừa kế là cá nhân phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế. Vì thế, người thừa kế mà chết trước, chết cùng thời điểm với người để lại di sản thì sẽ không còn là người thừa kế nữa. Trường hợp người thừa kế của nhau chết cùng thời điểm, do tại thời điểm đó cùng mở thừa kế của hai người nên không xác định được tư cách chủ thể về mặt pháp lý cũng như sự hiện diện về mặt vật chất của họ trên thực tế chấm dứt tư cách chủ thể của những người này. Vì thế, Bộ luật dân sự 2015 quy định nếu những người này chết cùng thời điểm thì tài sản mà họ để lại được chia cho những người thừa kế của người đó, còn bản thân họ không được hưởng di sản của nhau. Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản có được hưởng di sản theo di chúc không?Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản vẫn có thể hưởng di sản nếu người để lại di sản biết về hành vi của họ nhưng vẫn để lại di chúc cho họ thừa kế.

người không được quyền hưởng di sản